lundi 22 juin 2015

GD_Tiếp cận có tính hệ thống về dạy và học là gì ?



Chương  3: Tiếp cận có tính hệ thống về dạy và học là gì ?
Tác giả: Judith T. Barr
Võ Thị Hà phỏng dịch, lược dịch, tổng hợp từ Quyển "Pharmacy Education - What matters in learning and teaching" của Lynne M. Sylvia, Judith T. Barr
Nhóm dịch sách giáo dục: https://www.facebook.com/groups/739767406098392/

Giới thiệu
Khi bạn bắt đầu tiến hành một hoạt động về giáo dục mới (như tổ chức một buổi học mới, một khóa học mới, một nội dung xuyên suốt mới trong chương trình, một khung chương trình mới), bạn đều đang tiếp cận với một hệ thống (system) phức tạp gồm nhiều thành tố tạo nên hệ thống, phụ thuộc nhau, liên đới với nhau. Những yếu tố nội tại của trường đại học bao gồm đặc điểm sinh viên; những khóa học mà sinh viên đã học trước đó, đang học song song hay sau khi học khóa học của bạn; những đặc điểm cơ sở vật chất của phòng học; hoặc các đòi hỏi, yêu cầu về chương trình của trường. Những yếu tố bên ngoài của trường đại học như các cơ quan thẩm định, các tổ chức khoa học và nghề nghiệp, các khuyến cáo về khung chương trình đào tạo nghề nghiệp của quốc gia, các hướng dẫn điều trị lâm sàng, các chính sách, quy định của chính phủ đều là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến nội dung của lớp học, khóa học hay chương trình học.

Khi bạn càng có kinh nghiệm giảng dạy, trách nhiệm của bạn có thể sẽ tăng dần. Ban đầu, bạn có thể được giao trách nhiệm xây dựng một số bài giảng, đến một học trình, hay thậm chí là cả khung chương trình. Chương này sẽ hướng dẫn bạn theo cấp độ phức tạp tăng dần này. Dùng phương pháp tiếp cận có tính hệ thống (system appoach), bạn sẽ khám phá các thành tố kết nối cần cân nhắc trong 4 trường hợp chính: (1) tổ chức một buổi học, (2) tổ chức một khóa học, (3) tổ chức một nội dung xuyên suốt chương trình học, (4) tổ chức một khung chương trình đào tạo mới.

Chương này sẽ giúp bạn trả lời các câu hỏi sau:
- Cách tiếp cạnh có tính hệ thống trong giáo dục là gì ? Đặc điểm là gì ?
- Những yếu tố/thành phần trong hệ thống như đầu vào (input), quá trình (process), đầu ra (outcome) trong mỗi trường hợp là gì ? Mối liên hệ nội tại giữa chúng là gì ?
- Các yếu tố/thành phần này khác nhau trong các trường hợp là vì sao và như thế nào ?
- Các yếu tố ảnh hưởng nội tại và ngoại lai trong mỗi trường hợp ?
- Đặc tính lồng vào nhau, một hệ thống tồn tại bên trong một hệ thống khác là gì ?

Hệ thống (system), Tư duy hệ thống (system thinking), và Tiếp cận hệ thống (system approach) là gì ?
Hệ thống là gì ?
Vào những năm 1940, von Bertalanffy, nhà sinh học người Đức bắt đầu nghiên cứu hệ thống sinh học và định nghĩa: "Một hệ thống có thể được định nghĩa như một phức hợp gồm nhiều thành tố tương tác qua lại với nhau."  Và định nghĩa/khái niệm này đã được áp dụng cho các lĩnh vực khác. Năm 1968, ông ấy xuất bản quyển sách "Lý thuyết hệ thống tổng quát" (General Systems Theory). Đến 2009, một thư viện lớn của Mỹ đã có 783 quyển sách với từ "system approach" nằm trong tiêu đề sách, cho thấy mức độ lan rộng của khái niệm này trong các lĩnh vực. Chủ đề này đã lan rộng từ lĩnh vực kinh doanh, sang xã hội học đến kĩ thuật, kiểm soát tài chính; sinh thái học, môi trường, và đến giáo dục.

Một định nghĩa khác của Deming: "Một hệ thống là một mạng lưới gồm nhiều thành phần phụ thuộc nhau và cùng vận hành với nhau nhằm hoàn thành mục đích của hệ thống đó. Một hệ thống có một mục đích. Không có một mục đích, không có hệ thống." Như vậy, Deming bổ sung thêm một tiêu chuẩn của hệ thống là có một mục đích xác định.

Tư duy hệ thống (system thinking)
Tư duy hệ thống (system thinking) là một quy tắc nhìn nhận sự việc một cách tổng thể, toàn diện (whole). Đó là nhìn nhận các mối quan hệ nội tại thay vì chỉ các thành tố đơn lẻ: nhìn nhận các mẫu hình/mô hình thay đổi, vận động không ngừng thay vì xem xét sự vật với các lát cắt, hình ảnh tĩnh. Senge đã bổ sung thêm khái niềm về cái tổng thể (the whole). Senge (một nhà nghiên cứu chủ yếu làm về quản lý, thay đổi về tổ chức, cạnh tranh) cho rằng thay vì tập trung vào các cá nhân đơn lẻ trong hệ thống quản lý, một tổ chức cần hiểu cái toàn thể, xem cái toàn thể như một hệ thống có tính phức hợp và động, làm việc song hành cùng các đơn vị trong tổ chức để đạt được những mục đích chung của tổ chức. 

Trong quyển sách "A system approach to teaching and learning procedures: a guide for educators" của UNESCO đã khuyến khích những nhà giáo dục áp dụng "cách tiếp cận có tính hệ thống" để xác định các điểm mạnh/yếu để cải thiện giáo dục.
Cách tiếp cận có tính hệ thống là một phương pháp làm việc, nó không phải là một khoa học. Mục đích của nó làm cho các thành tố cùng làm việc trong một tình huống phức tạp, bất kể vai trò của nó là gì, đều có khả năng phân tích sự phức tạp này, mô tả nó, nhận ra những "dysfuntion" để đề ra giải pháp khắc phục.

Tư duy hệ thống và tiếp cận hệ thống có 3 đặc điểm quan trọng:
1. Mỗi hệ thống có những mục đích xác định. Ví dụ như giáo dục dược là một hệ thống, mục đích của nó là đào tạo, chuẩn bị cho dược sĩ sẵn sàng đảm trách công việc thực hành dược trong hiện tại và tương lai.
2. Một hệ thống gồm nhiều thành tố và nó bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong cũng như bên ngoài. Tất cả các yếu tố của một hệ thống có mỗi liên hệ, kết nối với nhau và những thay đổi ở một thành tố này có thể làm thay đổi thành tố khác. Điều này, có thể buộc chúng ta phải xác định lại mục tiêu của hệ thống.
3. Cần có cái nhìn toàn diện về hệ thống. Khi tư duy hệ thống, chúng ta phải suy nghĩ một cách toàn diện, xác định tất cả các thành tố, các yếu tố ảnh hưởng (như lớp học, khóa học, sinh viên, khoa, yếu tố môi trường, luật) định hình, ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu của hệ thống. Ví dụ: nhữn gì xảy ra ở một buổi học có thể ảnh hưởng đến các buổi học tiếp theo, và cuối cùng ảnh hướng đến khả năng thực tập, thực hành của sinh viên sau này.

Câu hỏi 1: Hệ hô hấp trong cơ thể, một công viên, một đội bóng, một đại học, một thành phố có thể được xem là một hệ thống. Mục tiêu của mỗi hệ thống là gì ? Những yếu tố cấu thành hệ thống là gì ? Liên hệ với nhau như thế nào? Bạn có thể kể tên các hệ thống nào khác ?

Tiếp cận hệ thống trong giáo dục có những vấn đề gì ?
Tiếp cận hệ thống giúp hiểu hơn về sự phức tạp của trường học và quá trình giáo dục. Kaufman xác định một số thành tố của hệ thống giáo dục gồm: giảng dạy và hướng dẫn; quản lý và hành chính; cơ sở vật chất và dịch vụ hỗ trợ; cộng đồng và người học.

Áp dụng cách tiếp cận hệ thống vào giáo dục dược có những vấn đề gì ?
Tình huống 1: Một buổi học
Bạn là một giảng viên mới và được trưởng bộ môn (người điều phối viên) yêu cầu soạn một bài giảng về dược điều trị trong đái tháo đường. Vậy phải bắt đầu từ đâu ?
Bài tập 1:
1. Mục đích của lớp học là gì ?
2. Từ cách nhìn toàn diện, những thành tố nào tạo nên một lớp học ?
3. Các thành tố này liên kết và tương tác với nhau như thế nào ?
4. Phân loại các thành tố ở câu hỏi 3 vào 3 loại sau: thành tố thuộc đầu vào (input), quá trình (process) hay đầu ra (output).
Thành tố
Đầu vào
Quá trình
Đầu ra




5. Chọn hai thành tố và vẽ sự kết nối, mối liên hệ, tương tác của chúng với các thành tố khác trong danh sách của bạn

Câu trả lời cho bài tập 1:
1. Mục đích của lớp học là gì ?
Yêu cầu của trưởng bộ môn về mục đích của lớp học để bạn thiết kế có đủ rõ ràng ? Bạn sẽ quyết định đề cập những nội dung gì trong buổi học ? Bạn có thể tự xác định mục tiêu của buổi học một mình, nhưng theo cách tiếp cận hệ thống, buổi học lại là một thành tố trong một hệ thống lớn hơn là môn học dược điều trị. Những gì bạn đề cập trong buổi học này có ảnh hưởng như thế nào với các môn học sau này ? Bạn có thể tham khảo nội dung buổi học xây dựng của năm trước. Nhưng bạn cũng cần thay đổi buổi học theo yêu cầu mới của năm này ? Tốt nhất bạn nên trò chuyện với trưởng bộ môn (hay người điều phối viên giữa các môn) để xác định rõ mục tiêu cụ thể của buổi học, thống nhất với mục tiêu lớn hơn của môn học hay cả chương trình.  

2. Từ cách nhìn toàn diện, những thành tố nào tạo nên một buổi học ?
Bây giờ bạn sẽ bắt đầu soạn nội dung của buổi học và cách tổ chức các nội dung đó. Nhưng bạn nhận ra rằng nội dung chỉ là một phần của hệ thống. Mục đích của lớp học còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như đặc điểm sinh viên, sắp xếp lớp học, cơ sở vật chất-kĩ thuật sẵn có, các yếu tố khác. Bạn quyết định giành hai tháng để tìm hiểu cá yếu tố này và tương tác giữa chúng. Sau đó, bạn lên nội dung lớp học và quá trình dạy-học.
Giờ hãy xem xét các thành tố và tổ chức chúng thành 3 bước để tổ chức một buổi học: đầu vào, quá trình, và đầu ra.

Hình 1 tóm tắt quan điểm rằng "đầu vào" của lớp học ảnh hưởng lên "quá trình" diễn ra trong lớp học, và "quá trình" này lại ảnh hưởng đến "đầu ra". Cả 3 thành tố này liên hệ với nhau và tương tác với nhau. Quá trình phản hồi(feedback) là một đặc điểm quan trọng của hệ thống; thông tin của một thành tố của hệ thống có thể được dùng như một phản hồi để xem xét lại tức thì thành tố khác.

Bước 1 - Đầu vào
1. Nội dung trước đó: Kiến thức cơ bản của sinh viên là gì ? Với những kiến thức của các môn học trước đó có đủ để sinh viên sẵn sàng cho môn học này ? Bạn có cần phải chuẩn bị các tài liệu mới ? Bạn có cần phải ôn lại kiến thức trước đó cho sinh viên ?
2. Tổ chức buổi học: buổi học được tổ chức như thế nào ? Có tài liệu đọc cho sinh viên trước khi tham giả buổi học ? Nếu bạn muốn tổ chức bài tập trước khi bắt đầu khóa học, điều đó có khả thi ? Bạn thông tin, liên lạc với sinh viên bằng cách nào? Lớp học kéo dài bao lâu ?
3. Sinh viên: bao nhiêu sinh viên ? Đặc điểm ?
4. Không gian:  Phòng học rộng bao nhiêu ? Ghế được xếp như thế nào ? Ghế cố định hay có thể di chuyển ? Nếu bạn muốn thảo luận từng nhóm nhỏ, điều đó có khả thi ? Có áp dụng kĩ thuật dạy học từ xa ?
5. Cơ sở kỹ thuật sẵn có: loại kĩ thuật giảng dạy nào đang có ? micro, máy tính, máy chiếu, thiết bị ghi ấm, nếu bạn có bài tập, bạn có thể gửi điện tử cho sinh viên ?
6. Chiến lược dạy - học: Hiểu biết của bạn về các chiến lược dạy - học (strategies) lấy sinh viên làm trọng tâm là quan trọng. Kỹ thuật nào là thích hợp với lớp học này ? Kỹ thuật nào đã được ứng dụng vào lớp học trước đó ?
7. Cập nhật nội dung của lớp học: những thông tin mới, những điều con tranh cải của nội dung môn học

Bước  2 - Quá trình
Bạn dựa trên các thông tin thu thập từ bước 1-"đầu vào" để điều chỉnh "quá trình" dạy-học cho phù hợp với mục tiêu của buổi học.
1. Nội dung lớp học: Dựa trên mục tiêu lớp học, và các thông tin "đầu vào" (kiến thức trước đó của sinh viên, thời gian của lớp học....), bạn soạn nội dung của buổi học. Với môn học này, bạn biết rằng người giảng chịu trách nhiệm tự soạn bài tập và tài liệu (handout), lớp học này độc lập và không tích hợp với các lớp học/môn học khác. Bạn có kết nối với sinh viên qua mạng nội bộ của trường, nên hai tuần trước khi lên lớp, bạn gửi email cho sinh viên các bài tập, mục tiêu của lớp học, và gửi slide bài giảng. Bạn gửi kèm một danh sách các câu hỏi để giúp sinh viên tập trung vào các nội dung quan trọng khi đọc slide. Bạn dự định cho sinh viên test trước buổi học bằng máy tính nhưng do cơ sở vật chất không có nên bạn không làm.
2. Phương pháp dạy -học:  lớp học gồm hai tiết, mỗi tiết 50 phút, nghĩ giải lao 10 phút, có 160 sinh viên. Lớp học diễn ra ở giảng đường có sức chứa 180 ghế cố định, giành cho thuyết giảng. Phòng học có máy tính và máy chiếu.
Dựa theo phân loại cấp độ học theo nhận thức của Bloom, bạn có thể thiết kế quá trình dạy-học theo mức độ tích cực tăng dần. Tiết đầu bạn có thể thuyết giảng để cung cấp kiến thức, nội dung, sau đó bạn chèn các câu hỏi vào cuối tiết học đầu tiên để kiểm tra khả năng hiểu, phân tích, áp dụng, đánh giá của sinh viên.
Sang tiết hai bạn có thể cho sinh viên ghép cặp, và tóm tắt lại dưới dạng biểu đồ nội dung của lớp học. Sau  khi cho các cặp làm việc trong 10 phút, bạn tập trung cả lớp để hoàn thiện biểu đồ tóm tắt bài học cùng nhau. Cuối cùng, bạn có thể đưa ra một tình huống, và yêu cầu các cặp sinh viên đưa ra giải pháp dựa trên nội dung bài học đã tóm tắt.

Bước 3 - Đầu ra
"Đầu ra" của một buổi học-dạy về đái tháo đường là gì ? Làm sao đo lường, đánh giá chúng ?

Đầu tiên, trả lời câu hỏi đó từ chính quan điểm của bạn. Ngay sau buổi học hãy giành thời gian viết ra suy nghĩ của bạn về buổi học. Liệu buổi học có đề cập đến tất cả những nội dung? Sinh viên có đọc bài được giao về nhà trước khi đến lớp? Buổi học diễn ra như thế nào ? Sinh viên có tham gia tích cực ? Sinh viên có tham gia làm bài tập ? Khi bạn cho sinh viên thảo luận, sinh viên có trả lời ? Nếu bạn dạy lại buổi học đó, điều gì bạn sẽ thay đổi ?

Thứ hai, xem xét việc mời đồng nghiệp/trưởng bộ môn/người điều phối khóa học tham dự tiết giảng và góp ý cho bạn. Bạn có thể hỏi góp ý về những điểm cụ thể hoặc đánh giá tổng thể.

Thứ ba là yêu cầu sinh viên điền khảo sát về chất lượng buổi học vào cuối buổi học. Hỏi sinh viên những câu hỏi mà bạn tự hỏi chính bạn, với thang đánh giá Likert.

Thứ tư là xây dựng phương pháp đánh giá sinh viên thích hợp dựa trên mục tiêu của bài học.

Cuối cùng, một đánh giá đầu ra dài hạn lý tưởng là xác định liệu sinh viên có thể áp dụng nội dung của bài học trong việc chăm sóc bệnh nhân khi đi thực tập. Tiến hành một cuộc khảo sát ý kiến người hướng dẫn sinh viên khi thực tập.

Phương pháp tiếp cận hệ thống đối với quá trình dạy-học đòi hỏi bạn một bước xa hơn là - bước phản hồi (feedback). Bạn có thể dùng kết quả từ việc đo lường các đầu ra ở trên để cải thiện các yếu tố đầu vào (input) cũng như thay đổi quá trình (process) diễn ra trong lớp học. Ví dụ, giả sử sinh viên nhận định rằng chúng thích thảo luận trong lớp học vì giúp chúng ứng dụng các khái niệm tốt hơn. Nhưng giảng viên cần có phương pháp tốt hơn giúp tổng hợp các câu trả lời của từng sinh viên. Phản hồi này của sinh viên có thể giúp bạn tìm ra cách mới để tổng hợp ý kiến của sinh tốt hơn cho buổi học kế tiếp như dùng phiếu trả lời câu hỏi 4 màu.

Mới đọc lần đầu, có cảm tưởng việc lên kế hoạch buổi học từ cách tiếp cận hệ thống có vẻ khá phức tạp. Nhưng điều quan trọng là cần hiểu rằng việc xây dựng buổi học nên lấy sinh viên làm trọng tâm thay vì lấy những yêu cầu của bộ môn/khoa làm trọng tâm. Hãy chú ý đến các thành tố và mối liên hệ, kết nối, tương tác giữa các thành tố trong hệ thống (buổi học) này; xác định các yếu tố "đầu vào", "quá trình", "đầu ra" và mối liên hệ, phản hồi (feedback) giữa chúng để có cái nhìn tổng thể toàn diện về hệ thống dạy-học này.
Còn tiếp...


samedi 20 juin 2015

VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH DƯỢC



VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH DƯỢC: HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

Ngày nay để hoàn thành những công việc phức tạp, Dược sĩ phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ. Qua bài viết này tác giả sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quan về những công nghệ (ứng dụng trong ngành dược) hiện có trên thị trường.

Hơn 40 năm qua, công nghệ thông tin đã tác động rất lớn đến đời sống hàng triệu người. Nhiều nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ máy tính bởi vì lợi ích từ quá trình tự động của nó. Chúng có thể thực hiện thường xuyên các nhiệm vụ đơn điệu, lặp đi lặp lại với độ chính xác cao; tiêu chuẩn hóa, thống nhất sử dụng các thuật ngữ, danh pháp; và có thể tùy chỉnh (cung cấp dịch vụ cho một số lượng lớn, nhưng có thể được tùy chỉnh theo các cá nhân).

Đối với bác sĩ và dược sĩ, công nghệ thông tin giúp lưu trữ hồ sơ bệnh nhân theo cấu trúc, tạo thuận lợi cho việc kê đơn điện tử, phân phát và quản lý các loại thuốc, tự động xử lý thuốc trong chuỗi cung ứng và cung cấp các công cụ để giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả. Do đó công nghệ thông tin có thể đảm bảo an toàn người bệnh, cho phép các chuyên gia cung cấp dịch vụ chăm sóc chất lượng cao và giúp bệnh nhân tận dụng tối đa lợi ích từ các dược phẩm mà họ đang sử dụng.

TẬN DỤNG TỐI ĐA HỆ THỐNG
Hiện nay, hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ cho công việc chuyên môn của các dược sĩ. Khi cân nhắc việc ứng dụng các thiết bị CNTT để phát triển các hoạt động thực hành, dược sĩ nên xem xét các chức năng mà hệ thống CNTT này mang lại.
Ví dụ, mọi nhà thuốc sử dụng "hệ thống quản lý dược" để lưu trữ các đơn thuốc, cấp phát thuốc, ghi nhãn, đặt hàng và quản lý tồn kho. Tuy nhiên, rất nhiều nhà thuốc không sử dụng hết các chức năng có sẵn của hệ thống, ví dụ, những chức năng liên quan đến bệnh nhân như  quản lý dịch vụ theo dõi và chăm sóc bệnh nhân, xem xét việc sử dụng thuốc hoặc can thiệp vào việc kê đơn của bác sĩ.

Các dược sĩ cũng nên tận dụng tối đa các dịch vụ có sẵn tại cơ sở của mình, ví dụ như hệ thống kê đơn điện tử (electronic prescription service EPS). Việc lựa chọn và áp dụng EPS sẵn có tại cơ sở có thể trợ giúp quá trình cấp phát thuốc và thanh toán bảo hiểm được hiệu quả hơn đối với các dược sĩ cộng đồng.

Truy cập vào hệ thống hồ sơ của bệnh nhân sẽ hỗ trợ các dược sĩ đưa ra quyết định liên quan đến chuyên môn khi cung cấp các dịch vụ chăm sóc bệnh nhân. Thực tế, các bệnh án tóm tắt của bệnh nhân hiện nay đã có ở nhiều nơi và rất có ích với các dược sĩ bệnh viện khi muốn đối chiếu thuốc (medicines reconciliation: một quy trình để đối chiếu thuốc dùng của bệnh nhân bởi các bác sĩ, hay cơ sở y tế khác nhau nhằm tránh nguy cơ sai sót thuốc như bỏ sót, trùng lắp thuốc, sai liều, tương tác thuốc… ). Trong tương lai, dược sĩ cộng đồng cũng có thể sử dụng hệ thống này. Những hồ sơ bệnh án điện tử của bệnh nhân cục bộ cũng như ở tầm quốc gia sẽ giúp cho dược sĩ tư vấn sử dụng thuốc tốt hơn.  

 SỨC MẠNH CỦA INTERNET
Internet đã được áp dụng rộng rãi cho truyền thông doanh nghiệp và xã hội. Trong tương lai, khi việc sử dụng internet trở nên phổ quát, có thể có sự gia tăng về số lượng các nhà thuốc sử dụng internet để hiển thị và phổ biến thông tin về các loại thuốc và sức khỏe. Hiện nay, các ứng dụng chạy trên nền tảng web được phân phối từ nhiều nhà cung cấp khác nhau mục đích để hỗ trợ dịch vụ y dược và phổ biến các sáng kiến sức khỏe cộng đồng. Việc sử dụng internet sẽ tăng lên và các ứng dụng chạy trên nền tảng web sẽ được sử dụng như là một cổng thông tin truyền thông cung cấp thông tin cho các dược sĩ từ các hệ thống chăm sóc y tế khác (ví dụ thông tin xuất viện).

KÊ ĐƠN ĐIỆN TỬ VÀ XUẤT VIỆN ĐIỆN TỬ
Hệ thống kê đơn điện tử (Electronic prescribing - EP) giúp kê đơn với sự hỗ trợ tự động của máy tính, cho thấy làm giảm sai sót y tế, tăng an toàn của người bệnh. Tuy nhiên, tác dụng giảm thiểu sai sót phụ thuộc nhiều vào việc thiết kế hệ thống kê đơn điện tử như thế nào. Cần lưu ý là nếu triển khai hệ thống mới này không tốt có thể làm tăng tỷ lệ sai sót. 

Hình 1: Kê đơn điện tử bằng tablette
Hệ thống EP ứng dụng tiên phong tại Hoa Kỳ vào đầu những năm 1990, nhưng vẫn tương đối ít bệnh viện Anh có hệ thống EP toàn bệnh viện. Theo thông báo của Chính phủ vào tháng 5 năm 2013, Quỹ Công nghệ sẽ tăng việc tiếp nhận và sử dụng EP trong các bệnh viện. 
Việc chuyển giao kịp thời và chính xác đơn thuốc xuất viện của bệnh nhan từ cơ sở chăm sóc tuyến dưới lên tuyến trên là quan trọng để đảm bảo bệnh nhân được chăm sóc liên tục và cũng tránh sai sót xuất hiện do thiếu thông tin liên lạc. Gần đây, nhiều bệnh viện đã chấp thuận hệ thống xuất viện điện tử. Tuy nhiên, hệ thống đó có chức năng hỗ trợ quyết định không đầy đủ, và các trường dữ liệu không theo một định dạng chuẩn. Hơn nữa, hệ thống cho phép gửi thông tin xuất viện đến các bác sĩ điều trị của bệnh nhân tại cộng đồng, mà không gửi đến được cho dược sĩ cộng đồng.
Nhiều sáng kiến địa phương và quốc gia đang được phát triển để giải quyết những vấn đề này, chẳng hạn Công cụ NHS Connecting for Health Electronic Discharge Implementation Toolkit cho phép gửi thông tin xuất viện đến cho dược sĩ cộng đồng.

XÁC ĐỊNH THUỐC BẰNG MÃ VẠCH
Xác định thuốc bằng mã vạch đã được dùng trong hệ thống kê đơn điện tử và cho thấy giảm sai sót dùng thuốc cũng như giúp hoàn chỉnh tiền sử dùng thuốc của bệnh nhân.
Hệ thống phát hiện thuốc giả (Falsified Medicines Directive) dự định sẽ áp dụng năm 2017, với đặc điểm mỗi thuốc sẽ có một nhận dạng duy nhất (có thể đó mà một mã vạch barcode) khi phân phối trên cả nước để chống lại hàng giả.  


Hình 2: Xác định thuốc bằng mã vạch

CÔNG NGHỆ DI ĐỘNG
Điện thoại di động ngày càng được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Một vài nhân viên dược đang dùng cách nhắn tin để nhắc nhở bệnh nhân tuân thủ y lệnh hay để cung cấp dịch vụ, nhưng những ứng dụng phức tạp này mới chỉ được phát triển để theo dõi bệnh, ví dụ ghi nhận lại lưu lượng đỉnh thở ra trong bệnh hen, theo dõi nồng độ glucose máu, hỗ trợ tuân thủ thuốc và giáo dục sức khỏe. Những ứng dụng này sẽ có tác động to lớn hơn đến lĩnh vực thực hành Dược trong tương lai.

Hình 3: Máy di động cùng với phần mềm giành cho bác sĩ và bệnh nhân

KIỂM TRA MỨC ĐỘ TUÂN THỦ
Nhiều công nghệ hiện nay có thể hỗ trợ đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân. Nhiều nhà cung cấp đã phát triển loại vỉ “thông minh” gắn microchip để biết được khi nào viên thuốc được lấy ra và nhắc bệnh nhân ghi lại thông tin tác dụng phụ của thuốc. Những dữ liệu này có thể được chuyển qua điện thoại di động hoặc máy tính bảng đến bệnh viện.

Hình 4: Vỉ thuốc "thông minh"
Một công nghệ giám sát độ tuân thủ mang tính xâm lấn hơn là viên thuốc “thông minh”, như hệ thống Lifenote đang được thử nghiệm quy mô nhỏ bởi Lloyspharmacy. Quá trình xảy ra khi viên thuốc cảm ứng được uống bởi bệnh nhân, khi đó dữ liệu về liều dùng, nhịp tim, tư thế sẽ được chuyển vào di động hoặc máy tính bảng thông qua miếng dán nhận dữ liệu trên da bệnh nhân. Hiện nay người ta chỉ đang thử trên những viên thuốc giả, khi thành công sẽ đưa lên áp dụng trên các loại thuốc chữa bệnh.

CHĂM SÓC TỪ XA
Chăm sóc từ xa (telemedecine) là việc sử dụng công nghệ giao tiếp số (qua các thiêt bị nghe nhìn) trong tư vấn và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa cho bệnh nhân. Chăm sóc từ xa đem lại nhiều lợi ích khác nhau như: bệnh nhân sẽ là trung tâm của chăm sóc sức khỏe và giúp cho việc cá thể hóa điều trị; tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe do bệnh nhân không nhất thiết phải đến bệnh viện (đặc biệt là cho những người khả năng đi lại bị hạn chế hoặc ở vùng sâu vùng xa); và có thể giảm phí đi lại cũng như phí khám bệnh. 

Hình 5: Chăm sóc từ xa
Tuy nhiên, lợi ích cụ thể của chăm sóc từ xa thay đổi theo cách áp dụng và tình huống chăm sóc khác nhau, và hiện nay các tài liệu vẫn cần nhiều bằng chứng hơn về lợi ích điều trị, và nhiều dữ liệu hơn về đánh giá so sánh chi phí - hiệu quả điều trị nhằm khẳng định mức độ cần thiết của việc đầu tư hơn nữa vào chăm sóc từ xa.
Ở nhà thuốc, sử dụng tư vấn từ xa cùng với hệ thống kê đơn điện tử và dịch vụ cung ứng dược qua internet, có thể thay đổi cách thức dịch vụ dược đang được cung cấp. Tuy nhiên, dịch vụ chăm sóc từ xa trong ngành dược có được chấp thuận hay không sẽ phụ thuộc vào sự hiện diện của phương thức giao tiếp đáng tin cậy và nền tảng kết hợp giữa sự sẵn lòng đầu tư của các cấp quản lý dược và việc đồng bộ sử dụng công nghệ số trong quản lý dữ liệu về nhân khẩu học của bệnh nhân.

KẾT LUẬN
Có hàng loạt các hệ thống và công nghệ có khả năng hỗ trợ quá trình cung ứng và sử dụng thuốc. Tuy nhiên, người dược sỹ sẽ cần phải đảm bảo việc khai thác công nghệ theo cách hữu ích cho công việc chuyên môn và không bỏ qua các sáng kiến công nghệ thông tin.

Tổ chức dịch và hiệu đính bởi các cộng tác viên của Hội dược sĩ bệnh viện Tp. Hồ Chí Minh:
Nguyễn Mỹ Chân, Trương Thị Minh Hương, Vũ Thị Huyền, Bùi Thị Trà, Đặng Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Ngọc (ĐH Dược Hà Nội). DS. Mai Tuyết Nhung (BV Ung thư Đà Nẵng), Lê Thị Hương (ĐH Y Thái Bình).DS. Lý Thị Kim Dung (BV ĐHYD TP. HCM), Phan Thúy Diễm (ĐH Tây Đô), Lê Thị Hoàng Lan (Oxford University Clinical Research Unit - Vietnam, HCMC), DS.
Nguyễn Đức Chung (BV ĐK Hà Tĩnh), DS. Nguyễn Thị Khánh Nam (Cty Aguettant).
Nguồn: Stephen Goundrey-Smith. Examining the role of new technology in pharmacy: now and in the future. 2014. Link: http://bit.ly/1Gyp71N
Link bài dịch gốc của Hội: http://hcpa.vn/hpahcmc/Trangch%E1%BB%A7/Th%C3%B4ngtint%E1%BB%95ngh%E1%BB%A3p/tabid/70/ItemId/78/vw/1/Default.aspx

mercredi 17 juin 2015

Tờ "Thông tin về bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ dành cho cha mẹ"

Tờ thông tin giành cho bố mẹ có trẻ bị bệnh viêm tiểu phế quản. Có thể xem và tải ở link sau: http://fr.slideshare.net/VoHa1/t-thng-tin-v-bnh-vim-tiu-ph-qun-tr-dnh-cho-cha-m

Đào tạo Dược tại Vương quốc Anh


Khái quát về dược và đào tạo dược tại Vương quốc Anh 
Tác giả: DS. Trịnh Thu Hà, BV Portsmouth, Anh
Cảm ơn TS.DS. Nguyễn Thị Liên Hương, ĐH Dược HN và Ths.DS. Nguyễn Như Hồ, ĐH Y Dược Tp. HCM đã đặt câu hỏi, góp ý.


Mỗi năm hơn 2500 dược sĩ được cấp phép hành nghề tại Vương quốc Anh (UK). Phần lớn dược sĩ ở Anh (trên 70%) làm việc trong các nhà thuốc cộng đồng, khoảng 25% làm trong các bệnh viện và một số lượng nhỏ làm việc trong các trường đại học, trong ngành công nghiệp dược phẩm hoặc trong các cơ quan quản lý dược. General Pharmaceutical Council hay GPhC là cơ quan quản lý dược sĩ, kĩ thuật viên dược, các nhà thuốc và các chương trình đào tạo dược ở Anh. Ở Anh, dược sĩ là một nghề được pháp luật bảo vệ, chỉ những người có tên trong danh sách được phép hành nghề của GPhC mới được phép gọi mình là dược sĩ. Điều này cũng đúng với kĩ thuật viên dược (pharmacy technicians). Đây là những người được đào tạo ít nhất 2 năm trong các cơ sở dược (phần lớn là hiệu thuốc cộng đồng và bệnh viện) dưới sự giám sát và giúp đỡ của dược sĩ theo các tiêu chuẩn của GPhC.   

Để được chính thức hành nghề dược sĩ, sinh viên phải tốt nghiệp một trong 29 trường dược được công nhận ở vương quốc Anh với tấm bằng MPharm (Master of Pharmacy). Chương trình MPharm thường kéo dài trong 4 năm và bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau của ngành dược. Mỗi trường dược có một chương trình đào tạo khác nhau. Một vài trường hiện tại cũng bắt đầu cung cấp chương trình đào tạo 5 năm với 2 kì thực tập 6 tháng ở những năm cuối. Sinh viên tốt nghiệp các khóa học 5 năm này không cần thực tập 1 năm sau khi tốt nghiệp vì chương trình đã bao gồm thời gian thực tập bắt buộc. Thời gian học trên lớp (lectures and seminars)  thường chiếm khoảng 1/3 thời gian đào tạo, thay đổi tùy theo quá trình học (thường nhiều ở những năm đầu và ít dần ở năm cuối) và khác nhau giữa các trường. Việc tự học và tự nghiên cứu cũng được đánh giá cao trong công tác đào tạo dược, thường chiếm ít nhất 50% tổng thời gian đào tạo. Các trường dược ở Anh không phân ngành, sinh viên cùng trường sẽ theo học cùng một chương trình với một số môn học bắt buộc và một số môn tự chọn. Điều này nhằm đảm bảo sinh viên tốt nghiệp có mặt bằng chung tương đương dù làm ở lĩnh vực nào trong ngành dược. 

Tuy chương trình đào tạo khác nhau, các giáo trình đào tạo đều bao gồm 4 mảng chính của dược: hóa dược (medicinal chemistry), dược lý (pharmacology), dược bào chế (drug delivery/pharmaceutics/ microbiology) and thực hành dược (pharmacy practice). Vào những năm cuối, sinh viên cần tham gia một đồ án nghiên cứu khoa học và các đề tài thường được phân loại theo 4 mảng chính này. Chương trình học cũng bao gồm các đợt thực tập trong các bệnh viện, nhà thuốc cộng đồng và các công ty dược phẩm. Sinh viên có cơ hội thực tập ngay từ năm 1. Thời gian thực tập tùy thuộc vào sự sắp xếp của các trường, có thể kéo dài từ 1-2 ngày đến vài tuần. Sinh viên một số trường cũng có cơ hội trao đổi ở các trường dược trong khu vực EU, Mĩ, Úc hay châu Á hay thực tập ở các công ty dược ở nước ngoài. Sự khác biệt về chương trình giảng dạy và thực tập tạo nên sự đa dạng cho việc đào tạo dược ở Anh và cũng mang đến cho sinh viên nhiều lựa chọn.

Sau khi tốt nghiệp, hầu hết sinh viên phải hoàn thành chương trình thực tập 1 năm trong các bệnh viện, nhà thuốc hoặc các công ty thuốc lớn với danh nghĩa dược sĩ thực tập (pre-registration pharmacist). Sinh viên tốt nghiệp các khóa học 5 năm như đã đề cập là trường hợp ngoại lệ. Chương trình thực tập này được quản lí một cách chặt chẽ bởi GPhC. Kết thúc ít nhất 52 tuần thực tập là kì thi lấy chứng chỉ hành nghề (registration exam) và nếu vượt qua và hoàn thành các thủ tục đăng kí, tên họ sẽ có trong danh sách những dược sĩ được hành nghề ở Anh. Với một số nhỏ theo học chương trình dược 5 năm, sinh viên sẽ tham dự kì thi lấy chứng chỉ hành nghề vào năm cuối.

Dược sĩ được đào tạo trong khu vực châu Âu (EEA) có thể hành nghề ở UK nếu bằng cấp và trình độ tiếng Anh được xét duyệt và chấp nhận bởi GPhC. Dược sĩ được đào tạo ngoài khu vực EEA, tuy nhiên, nếu muốn hành nghề ở UK cần phải hoàn thành chương trình đào tạo cho dược sĩ nước ngoài (Overseas pharmacists’ assessment program), ít nhất 52 tuần thực tập và vượt qua kì thì lấy chứng chỉ hành nghề, tất cả đều được quản lí bởi GPhC. Mỗi trường hợp sẽ được GPhC xét duyệt riêng dựa trên bằng cấp và kinh nghiệm làm việc.       
Như đã đề cập, một dược sĩ chỉ được phép hành nghề khi có tên trong danh sách dược sĩ của GPhC với số chứng chỉ hành nghề riêng (registration number). Danh sách này có thể được truy cập online trên trang web của GPhC. Danh sách này được cập nhật hàng năm để đảm bảo chỉ có những dược sĩ vẫn đang hành nghề là có tên trong danh sách. Hai tiêu chuẩn quan trọng được nhắc đến nhiều nhất khi hành nghề dược sĩ FtP (fitness to practice) và CPD (continuing professional development). Mục đích của FtP là để đảm bảo chỉ những dược sĩ phù hợp nhất được hành nghề. FtP bao gồm nhiều nội dung trong đó quan trọng nhất là 7 tiêu chuẩn (7 principles of the Standard Codes of Conduct) đề cập đến những phẩm chất đạo đức, hành vi ứng xử, thái độ làm việc và cả khả năng chuyên môn của dược sĩ khi hành nghề. Vi phạm các tiêu chuẩn này, dược sĩ sẽ phải trả lời thẩm vấn trước hội đồng FtP và nếu nặng có thể bị tước bằng. CPD là một tiêu chuẩn khác để duy trì giấy phép hành nghề. Mục đích của CPD là để đảm bảo các dược sĩ luôn cập nhật thông tin, không ngừng học hỏi và tăng cường trình độ chuyên môn. Nội dung của CPD không bị giới hạn và tùy thuộc vào công việc của mỗi dược sĩ. Từ việc học thêm về liều lượng và cách sử dụng một loại thuốc mới được cấp phép đến làm cách nào để tư vấn, thuyết phục một bệnh nhân tuân thủ điều trị, tất cả đều có thể được ghi lại như một CPD với mục đích nâng cao chất lượng công việc của dược sĩ. Mỗi dược sĩ phải hoàn thành ít nhất 9 CPDs mỗi năm và lưu online trên trang web của GPhC.

Thông tin về đào tạo dược, dược sĩ và kĩ thuật viên dược có thế được tham khảo thêm ở trang web của GPhC  http://www.pharmacyregulation.org/. Unistats là một trang web hữu ích để so sánh khóa học dược giữa nhiều trường ở Anh http://unistats.direct.gov.uk/. Thông tin cụ thể về từng chương trình đào tạo có thể tìm thêm trên website các trường đại học.