vendredi 11 mars 2016

PHỐI HỢP THUỐC KHÁNG SINH TRÊN LÂM SÀNG

PHỐI HỢP THUỐC KHÁNG SINH TRÊN LÂM SÀNG
Ds. Lê Mới Em
Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Thạnh Trị, Tỉnh Sóc Trăng
11/03/2016

Việc lựa chọn và sử dụng kháng sinh trên lâm sàng nên có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả của KHÁNG SINH ĐỒ. Tuy nhiên trong những trường hợp bệnh nhân nhập viện với tình trạng bệnh nặng mà không thể chờ đợi kết quả xét nghiệm vi sinh được; bệnh nhân bị nhiễm khuẩn mắc phải ở bệnh viện như viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn..., những trường hợp này thường gặp những chủng vi khuẩn có tính kháng thuốc cao hoặc các nhiễm khuẩn hỗn hợp... thì cần phải phối hợp kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm là vấn đề cần thiết.
1) Cơ sở lý thuyết cho sự phối hợp.
a) Cơ sở lí thuyết cho phi hp kháng sinh là nhm mục đích:
- Làm giảm khả năng xuất hiện chủng đề kháng: với những đề kháng do đột biến thì phối hợp kháng sinh sẽ làm giảm xác suất xuất hiện một đột biến kép.
Ví dụ: Xác suất đột biến kháng streptomycin là 10-7 và đột biến kháng rifampicin là 10-9, thì xác suất đột biến đề kháng cả 2 kháng sinh này là 10-16. Đây chính là lí do phải phối hợp kháng sinh trong điều trị lao và phong; ngoài ra còn áp dụng cho một số bệnh phải điều trị kéo dài như viêm màng trong tim và viêm tủy xương.
- Điều trị nhiễm khuẩn do nhiều loại vi khuẩn gây ra:
Ví dụ: Do cả vi khuẩn hiếu khí và kị khí thì phối hợp β-lactam với metronidazol như trường hợp viêm phúc mạc, áp xe não, áp xe phổi, một số nhiễm khuẩn phụ khoa… Như vậy mỗi kháng sinh diệt một loại vi khuẩn, phối hợp kháng sinh sẽ diệt nhiều loại vi khuẩn hơn.
- Làm tăng khả năng diệt khuẩn:
Ví dụ: Sulfamethoxazol & trimethoprim (Co-trimoxazol) tác động vào 2 điểm khác nhau trong quá trình sinh tổng hợp acid folic hoặc cặp phối hợp kinh điển beta-lactam (penicilin hoặc cephalosporin) với aminoglycosid (gentamicin hoặc tobramycin hay amikacin).
b) Kết quca phi hp kháng sinh:
Mỗi kháng sinh đều có ít nhiều tác dụng không mong muốn; khi phối hợp thì những tác dụng phụ này cũng sẽ cộng lại hoặc tăng lên. Không nên hy vọng phối hợp thì hạ được liều lượng từng thuốc vì có thể dẫn đến nguy cơ xuất hiện vi khuẩn kháng kháng sinh. Phối hợp kháng sinh có thể dẫn đến tác dụng cộng (addition) hoặc hiệp đồng (synergism) hoặc đối kháng (antagonism) hay không thay đổi (indifference) so với 1 thuốc đơn lẻ.
- Tác dụng đối kháng:  Phối hợp 2 thuốc mà tác dụng không bằng 1 thuốc.
+ Phối hợp các kháng sinh có cùng một đích tác động sẽ có tác dụng đối kháng vì chúng đẩy nhau ra khỏi đích. Ví dụ: Phối hợp erythromycin với clindamycin (hoặc lincomycin) và cloramphenicol.
+ Dùng tetracyclin cùng penicilin có thể dẫn đến tác dụng đối kháng, vì penicilin có tác dụng tốt trên những tế bào đang nhân lên, trong khi tetracycline lại ức chế sự phát triển của những tế bào này.
- Tác dụng hiệp đồng (đơn giản hóa có thể nói: 1+1 lớn hơn 2).
+ Trimethoprim và sulfamethoxazol ức chế 2 chặng khác nhau trên cùng một con đường tổng hợp coenzym – acid folic cần thiết cho vi khuẩn phát triển nên 2 thuốc này có tác dụng hiệp đồng và được phối hợp thành một sản phẩm (Co-trimoxazol).
+ Cặp phối hợp kinh điển: Một β-lactam với một aminoglycosid cho kết quả hiệp đồng do β-lactam làm mất vách tạo điều kiện cho aminoglycosid dễ dàng xâm nhập vào tế bào và phát huy tác dụng. Ví dụ: Phối hợp Piperacilin với aminoglycosid điều trị nhiễm khuẩn nặng do trực khuẩn mủ xanh; penicillin với gentamicin nhằm diệt liên cầu.
+ Phối hợp penicilin với một chất ức chế β-lactamase giúp cho penicilin không bị phân hủy và phát huy tác dụng; Ví dụ: Phối hợp amoxicilin với acid clavulanic hoặc ampicilin với sulbactam hay ticarcilin với acid clavulanic. Acid clavulanic hoặc sulbactam đơn độc không có tác dụng của một kháng sinh, nhưng có ái lực mạnh với β-lactamase do plasmid của tụ cầu và nhiều trực khuẩn đường ruột sinh ra.
+ Phối hợp 2 kháng sinh cùng ức chế sinh tổng hợp vách vi khuẩn, nếu mỗi kháng sinh tác động vào một protein gắn penicilin (PBP) - enzym trong quá trình tổng hợp vách thì sẽ có tác dụng hiệp đồng; Ví dụ: Phối hợp ampicilin (gắn PBP1) với mecilinam (gắn PBP2) hay ampicilin với ticarcilin.



c) Chdn chung cho phi hp kháng sinh.
- Phối hợp kháng sinh là cần thiết cho một số ít trường hợp như điều trị lao, phong, viêm màng trong tim, Brucellosis.
- Ngoài ra, có thể phối hợp kháng sinh cho những trường hợp: bệnh nặng mà không có chẩn đoán vi sinh hoặc không chờ được kết quả xét nghiệm; người suy giảm sức đề kháng; nhiễm khuẩn do nhiều loại vi khuẩn khác nhau.
- Khi phối hợp, cần dùng đủ liều và nên lựa chọn những kháng sinh có tính chất dược động học gần nhau hoặc có tác dụng hiệp đồng. Tác dụng kháng khuẩn in vivo (trong cơ thể) thay đổi tùy theo số lượng và tuổi (non - đang sinh sản mạnh hay già) của vi khuẩn gây bệnh cũng như các thông số dược động học của các kháng sinh được dùng phối hợp.
- Một số ví dụ: nhiễm khuẩn nặng do tụ cầu có thể dùng các phối hợp khác nhau như oxacilin (hoặc flucloxacilin) với acid fusidic hoặc cephalosporin thế hệ 1 với aminoglycosid hoặc aminoglycosid với clindamycin. Khi nhiễm vi khuẩn kị khí thì dùng metronidazol phối hợp để chữa viêm phúc mạc hay các nhiễm khuẩn ổ bụng; nếu nghi nhiễm vi khuẩn kị khí ở vùng đầu và đường hô hấp thì dùng cùng clindamycin (kháng sinh này có tác dụng tốt trên cả vi khuẩn Gram-dương và vi khuẩn kị khí).
- Quan sát in vivo cho thấy phần lớn các phối hợp kháng sinh có kết quả không khác biệt (indifferent) so với dùng một kháng sinh, trong khi đó các tác dụng không mong muốn do phối hợp lại thường gặp hơn; vì vậy cần thận trọng và giám sát tốt người bệnh khi kê đơn kháng sinh.

d) Sự phối hợp kháng sinh cũng có nhiều bất lợi.
- Khi phối hợp kháng sinh tạo tâm lý an tâm không còn tích cực tìm kiếm tác nhân gây bệnh.
- Phối hợp kháng sinh làm số lượng kháng sinh cần sử dụng nhiều hơn có thể gây ra tương tác bất lợi hoặc tăng độc tính của thuốc.
- Làm chi phí điều trị cao hơn nhưng đôi khi hiệu quả điều trị không tăng.
2. Các chế phẩm kháng sinh dạng phối hợp có sẵn trên thị trường.
a). Các chế phẩm phối hợp đã được nghiên cứu và phê duyệt.
Các hoạt chất phối hợp
Tên thương mại
Nhóm Dược lý
Amoxicillin/Clavulanic Acid
Augmentin®
Aminopenicillin/β-lactamase
inhibitor.
Ampicillin/Sulbactam
Unasyn®
Aminopenicillin/β-lactamase
inhibitor.
Ceftazidime/Avibactam
Avycaz®

Antipseudomal cephalosporin/β-
lactamase inhibitor

Ceftolozane/Tazobactam

Zerbaxa®
Anti-pseudomonal cephalosporin/
b-lactamase inhibitor.

Imipenem/Cilastatin
Primaxin®
Carbapenem.

Piperacillin/Tazobactam

Zosyn®,
Anti-pseudomonal penicillin/
β-lactamase inhibitor.
Ticarcillin/Clavulanate

Timentin®
Anti-pseudomonal penicillin.
Trimethoprim/
Sulfamethoxazole
Bactrim®
Folate antagonist/sulfonamide.
Spiramycin/ Metronidazol
Rodogyl®
Macrolid/5 –nitroimidazol


b) Các chế phẩm phối hợp chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Các hoạt chất phối hợp
Tên thương mại
Nhóm Dược lý
Cefixim/ Azithromycin
Dixim® - AZ
Cephalosporin/ Macrolid

Cefixim/Acid clavulanic
Tabocef® - CV
Cephalosporin/β-
lactamase inhibitor
Ceftriaxon/ Tazobactam
Trisys® -  TZ
Cephalosporin/β-
lactamase inhibitor
Ceftriaxon/ Sulbactam
Trisys® forte
Cephalosporin/β-
lactamase inhibitor

3). Ứng dụng trên lâm sàng phối hợp kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn theo kinh nghiệm.
Hiện nay vai trò gây bệnh của các vi khuẩn Gram âm đang chiếm ưu thế với tỷ lệ khoảng 70%. Các vi khuẩn Gram âm gây bệnh thường gặp là họ Enterobacteriaceae (E.coli, Klebsiella pneumoniae, Enterobacter…), A. baumannii, P. aeruginosa. Các vi khuẩn này có thể sinh β-lactamase phổ rộng (ESBL) đề kháng tất cả các kháng sinh nhóm β-lactam trừ carbapenem; nhưng đến nay một số chủng đã có khả năng tiết ra carbapenemase đề kháng carbapenem. Trực khuẩn gram âm thường gây tử vong với tỷ lệ cao, có thể lên đến 50%; tỷ lệ mắc bệnh và tử vong tăng ở một số bệnh viện có các vi khuẩn gram âm kháng thuốc.
Các vi khuẩn Gram dương gây bệnh thường gặp là S. aureus, Enterococcus, S. pneumoniae. Hiện nay S. aureus kháng penicillin – PRSA (Penicillin Resistant S. aureus) khoảng 90%. Tụ cầu vàng kháng methicillin – MRSA (methicillin Resistant S. aureus) dao động từ 30-50%. MRSA đề kháng toàn bộ nhóm beta-lactam, kể cả carbapenem; vancomycin là kháng sinh dùng để điều trị MRSA. Hiện nay liên cầu đường ruột kháng vancomycin – VRE (Vancomycin Resistant Enterococci) có tỷ lệ đề kháng thấp. Phế cầu kháng penicillin – PRSP (Penicillin Resistant S. pneumoniae) với tỷ lệ dao động từ 10-20%. Các vi khuẩn đề kháng hiện nay như sau:


Liệu pháp phối hợp kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm trong các bệnh lý nhiễm khuẩn trầm trọng (viêm màng não, viêm màng trong tim, viêm phổi bệnh viện, nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn…) và tiến triển nhanh là cần thiết khi chưa có kết quả vi sinh. Liệu pháp phối hợp kháng sinh có thể tóm tắt theo mô hình sau.



Tóm lại: Việc phối hợp kháng sinh khi thật cần thiết và khi sử dụng phải đúng liều lượng, đúng khoảng cách dùng thuốc và đủ thời gian qui định để hạn chế vấn đề đề kháng kháng sinh như hiện nay.

Tài liêu tham khảo
1.      Bộ Y Tế (2015). Hướng dẫn sử dụng kháng sinh (Ban hành kèm theo quyết định số 708//QĐ – BYT ngày 02/03/2015).
2.      GS.TS. Hoàng Thị Kim Huyền, GS.TS. J.R.B.J. Brouwers (2014). Sử dụng thuốc trong điều trị, Nhà xuất bản y học, tập 2, tr 13 – 39.
3.      Trần Thị Thu Hằng (2014). Dược lực học, Nhà xuất bản phương đông, tr 701 – 803
4.      Burke A. Cunha, MD, MACP (2015). Antibiotic Essentials, Fourteenth edition
5.      John E. Bennett,Raphael Dolin,Martin J. Blaser (2015). Basic Principles in the Diagnosis and Management of Infectious Diseases, Eighth edition.
6.      Therapeutic Options in an Era of Evolving Hospital Bacterial Susceptibility Patterns. (http://www.medscape.org/viewarticle/412892).
7.      Combination Therapy for Treatment of Infections with Gram-Negative Bacteria. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3416487/).
8.      Vancomycin in Combination with Other Antibiotics for the Treatment of Serious Methicillin-Resistant Staphylococcus aureus Infections (http://cid.oxfordjournals.org/content/49/7/1072.full).






dimanche 6 mars 2016

Thuốc này có được bẻ hay nghiền nhỏ không?


Thuốc này có được bẻ hay nghiền nhỏ không?

Người dịch: DS. Vũ Thị Vân . Khoa Dược, bệnh viện Y học cổ truyền trung ương.
Người hiệu đính: TS.DS. Võ Thị Hà, ĐH Y Dược Huế

Nhiều người không uống được thuốc dạng rắn. Một số đối tượng, ví dụ trẻ nhỏ, người mắc bệnh nuốt khó hay người bệnh có đặt ống xông dạ dày, không nuốt được nguyên viên thuốc (viên nén, viên nang).
Các thuốc không được nghiền hay bẻ:
Thuốc bao tan trong ruột
Không được nghiền, bẻ hay nhai. Những thuốc này được thiết kế để hòa tan trong ruột để giảm kích ứng dạ dày, tránh kích ứng miệng, tránh tổn thương rang và niêm mạc miệng, tránh thuốc bị phá hủy bởi acid dịch vị. Các thuốc này thường có kết thúc bằng ký tự EC (entoric coated). (1, 2, 3)
Thuốc giải phóng kéo dài
Tên thuốc kết thúc bằng CD (controlled delivery), CR (controlled release), DA (delayed action), ER (extended release), LA (long acting), MR (modified release), PA (prolonged action), SA (sustained action), Spansule, SR (sustained release), XR (extended release), XL (extended release). Các thuốc này được bào chế để giải phóng kéo dài hơn 24 giờ. Việc bẻ hay nghiền viên dẫn đến quá liều khởi đầu để duy trì tác dụng mong muốn. Aggrenox® là một ví dụ như thế, các pellet trong nang là dạng giải phóng kéo dài. Tốt nhất là kiểm tra tên thuốc trong danh sách các thuốc không được bẻ hay nghiền (phía dưới).
Thuốc độc, thuốc gây quái thai và hormone
Việc nghiền hay bẻ thuốc này khiến cho bệnh nhân hoặc điều dưỡng hít phải những phân tử khí trong suốt quá trình uống thuốc, điều này ảnh hưởng đến phụ nữ trong độ tuổi sinh con. Ví dụ: tamoxifen, hydroxyurea, finasteride, dutasteride. Nếu không có thuốc dạng lỏng hay không có lựa chọn nào khác thì điều dưỡng nên đeo khẩu trang y tế và găng tay. (1,3)
Danh sách các thuốc không được nghiền:
·         Danh sách các thuốc không được nghiền – Viện nghiên cứu an toàn dược phẩm
            http://www.ismp.org/Tools/default.asp   (truy cập miễn phí)
·         Không được nghiền! – Hướng dẫn về thuốc của Davis
           http://www.drugguide.com/ddo/ub/view/Davis-Drug-Guide/109642/all (truy cập miễn phí)
·         Các thuốc không được nghiền – PL Detail-Document. Pharmacist’s Letter/Prescriber’s Letter. July 2012.
            www.canadianpharmacistsletter.com (tính phí)
·         Các thuốc không được nghiền hoặc thay đổi dạng bào chế - Lexi-Comp
Nếu các thuốc không được nghiền thì cần có dạng bào chế khác để thay thế
Thuốc dạng lỏng, thuốc đạn, viên giải phóng tức thì, viên tan trong miệng, viên đặt dưới lưỡi, tiêm không qua đường ruột và thuốc tác dụng tại chỗ là tất cả các cách có thể dùng để thay thế. Nếu thay đổi từ thuốc tác dụng kéo dài sang thuốc tác dụng ngắn thì liều dùng phải chia nhỏ và số lần dùng thuốc trong ngày cần thay đổi phù hợp. Ví dụ: Seroquel XR®75mg 1 lần mỗi ngày chuyển sang Seroquel IR®25mg 3 lần mỗi ngày (6). Cũng như thế, cần bảo đảm các dạng bào chế khác chứa cùng hoạt chất thuốc, ví dụ: Dilantin®giải phóng kéo dài chứa 100mg phenytoin natri. Chế phẩm dạng lỏng chứa phenytoin dạng acid tự do, dạng này có tác dụng hơn xấp xỉ 8% so với phenytoin dạng muối natri. Vì thế, tổng liều dùng hàng ngày của chế phẩm dạng lỏng cần được giảm bớt.
Cần làm gì nếu các thuốc này không có sẵn dạng bào chế khác?
1.      Nếu có thể, khuyên bệnh nhân thử nuốt cả viên. Có một số cách bạn có thể giúp bệnh nhân nuốt cả viên dễ dàng hơn (7, 8, 9)
·         Trộn với sữa chua, thạch, sốt táo, chuối hoặc bơ lạc.
·         Đặt viên thuốc vào trong kẹo gôm hoặc lát cam, quýt.
·         Với thuốc có vị khó chịu, đặt viên thuốc trong một vỏ nang rỗng.
·         Thử uống ở tư thế đứng.
·         Để thuốc dưới lưỡi và uống nước bằng ống hút.
·         Sử dụng một cốc đặc biệt, ví dụ, cốc Oralflo. Thuốc được giữ trong một “máng” được thiết kế đặc biệt. Khi uống, thuốc và chất lỏng được nuốt cùng nhau.
·         Uống một chút nước trước khi thử uống cả viên. Miệng và họng khô có thể ngăn cản việc nuốt thuốc. Tập nuốt. Bắt đầu với những thứ nhỏ như những họa tiết để trang trí bánh ăn được, tăng dần kích thước đến viên kẹo lớn hơn cho đến khi kích thước như viên thuốc cần nuốt.
·         Với bệnh nhân có chứng khó nuốt, như bệnh nhân đột quỵ, thì việc tư vấn một chuyên gia về nuột có thể có lợi.
2.      Kiểm tra cơ sở dữ liệu thông tin thuốc. Ví dụ. Lexi-Comp™gợi ý rằng viên nang omeprazole có thể tháo rỗng và trộn với sốt táo hoặc bánh pudding và uống.
3.      Kiểm tra qua nhà sản xuất thuốc. Ví dụ: theo thông tin của nhà sản xuất, Avelox®viên nén không được bẻ hay nhai. Tuy nhiên, khi được hỏi thì Bayer có thể đưa ra thông tin từ một nghiên cứu chưa công bố, nghiên cứu này chỉ ra sinh khả dụng của thuốc không giảm khi viên nén được bẻ và uống luôn.
4.      Kiểm tra xem có giải pháp thay thế tại các nhà thuốc. Các nhà thuốc có thể có dạng bào chế khác thay thế như  dạng lỏng, viên đạn, kem bôi ngoài da,…cũng như các viên nén và viên nang có thể thay thế khác.
5.      Kiểm tra với trung tâm tư vấn sử dụng thuốc: tìm các dạng bào chế khác và thông tin về tính ổn định và sinh khả dụng của các thuốc và dạng bào chế có thể thay thế.
 Dorothy Sanderson BSP, Karen Jensen MSc, BSP và Carmen Bell BSP.

Tài liệu tham khảo:
1.      Thuốc đường uống không được bẻ hay thay đổi dạng bào chế. Lexi-Comp Online™, Hudson, Ohio: Lexi-Comp, Inc.
2.      Cornish P. Tránh bẻ thuốc: sự khó khăn khi uống thuốc ở bệnh nhân nuốt khó hoặc dùng ống xông dạ dày www.cmaj.ca/content/172/7/871.
3.      Mitchell J. Các thuốc đường uống không được bẻ. Viện nghiên cứu tính an toàn của thuốc
4.      Viên nén hay viên nang nào được bẻ, mở vỏ nang, chia nhỏ? Canadian Pharmacist’s Letter 2008; 24(12) :241204.
5.      http://www.e-cps.ca.
6.      http://www.e-cps.ca.
9.      Việc nuốt khó: điều trị và thuốc. Mayoclinic Online. www.mayoclinic.


Dùng thuốc hết hạn, tác hại không lường

DS. Lại Thị Phương Liên Trường đại học Y Dược Thái Nguyên 
Bài đã được đăng trên báo Sức khỏe và Đời sống:


Vào năm 1979, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã bắt đầu yêu cầu phải có hạn dùng trên những loại thuốc bán theo đơn và cả các thuốc không cần kê đơn.

Các bất lợi khi sử dụng thuốc hết hạn
Thuốc đã hết hạn không chỉ làm giảm hiệu quả điều trị mà còn có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe người sử dụng do có thể có sự thay đổi trong thành phần hóa học của thuốc. Thuốc kháng sinh khi hết hạn có nguy cơ gây phát triển  vi khuẩn và có thể gây thất bại trong điều trị nhiễm trùng, dẫn đến hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc (nhờn thuốc). Một số dược chất khi hết hạn có thể phân hủy tạo ra một số chất độc cho cơ thể hoặc tạo ra các chất gây dị ứng, sốc phản vệ (trong trường hợp thuốc tiêm). Một khi thuốc đã quá hạn sử dụng, không có gì đảm bảo rằng thuốc sẽ còn an toàn và hiệu quả. Nếu thuốc của bạn đã hết hạn, hãy ngưng sử dụng chúng.

Cách xác định hạn dùng của thuốc
Ở Việt Nam, Bộ Y tế có quy định: “Hạn dùng của thuốc là thời gian sử dụng được ấn định cho một lô thuốc mà sau thời hạn này thuốc không được phép sử dụng.” Nói một cách khác, hạn dùng của thuốc là thời hạn được ấn định cho một lô sản phẩm mà trước thời hạn đó sản phẩm vẫn còn đảm bảo các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, còn đạt hiệu quả điểu trị trong điều kiện nếu được bảo quản đúng quy định.
Để đảm bảo an toàn cho sức khỏe của bản thân, người bệnh nên tập thói quen kiểm tra hạn dùng của thuốc trước khi sử dụng. Hạn dùng thường được in trên bao bì của thuốc, trên các nhãn dính trên chai, lọ đựng thuốc, dập trên vỉ thuốc,…và được ghi theo thứ tự ngày, tháng, năm của năm dương lịch. Số chỉ ngày, tháng gồm hai con số hoặc tên tháng bằng chữ và số chỉ năm ghi bằng bốn chữ số hoặc hai con số cuối của năm. Ngày sản xuất, hạn dùng ghi trên nhãn được ghi đầy đủ hoặc ghi tắt bằng chữ in hoa là: NSX, HD, Mfg Date, Exp Date… tùy từng nhà sản xuất.
Ví dụ: Một lô thuốc có hạn dùng được ghi là HD: 050716 hoặc HD: 05072016 có nghĩa là trước ngày 05 tháng 07 năm 2016 nếu được bảo quản theo đúng các điều kiện quy định, thuốc vẫn còn đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và do đó được phép sử dụng.
Trên bao bì thuốc thường gặp các cách ghi hạn dùng sau đây:
Đối với thuốc phải sử dụng nhiều lần như: thuốc nhỏ mắt, mũi, tai… hoặc các loại thuốc dung dịch, hỗn dịch; các loại thuốc tiêm, phải dùng nhiều liều, nhiều lần mới hết một lọ thì còn có thêm một hạn dùng cho thuốc sau khi đã mở nắp, đã pha thuốc. Hạn sử dụng này thường tùy vào hướng dẫn của nhà sản xuất, có thể là: 1 hoặc 2 ngày, 1 tuần, 1 tháng… hoặc phải hủy ngay, chúng ta cần chú ý không dùng quá hạn dùng thứ hai này để đảm bảo an toàn cho sức khỏe. Vì vậy cũng có trường hợp hạn dùng trên bao bì của thuốc vẫn còn nhưng thuốc đã không còn sử dụng được nữa.
Bảo quản thuốc đúng cách
Lưu trữ thuốc ở nơi thích hợp là một cách để giúp đảm bảo các loại thuốc sẽ vẫn an toàn và hiệu quả cho đến ngày hết hạn dùng của chúng. Để chắc chắn, nên đọc kỹ hướng dẫn bảo quản của nhà sản xuất. Một số loại thuốc cần phải được bảo quản trong điều kiện đặc biệt như trong ngăn mát tủ lạnh (thuốc tiểu đường dạng tiêm insulin …), không được tiếp xúc với nhiệt độ cao, hoặc tránh ánh sáng chiếu vào...
Khi bảo quản thuốc trong gia đình hãy chắc chắn tránh xa các thiết bị nóng và nơi có nhiều bụi bẩn, ẩm thấp do thay đổi nhiệt độ và độ ẩm có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ của thuốc. Một số người có thói quen để thuốc trong phòng tắm điều này có thể gây ảnh hưởng tới tác dụng củathuốc.
Nên bảo quản thuốc ở nơi khô mát, chẳng hạn như một tủ thuốc riêng, nếu không có điều kiện thì có thể bảo quản trong hộp lưu trữ, hoặc một ngăn kéo riêng trong tủ của gia đình.Cần chú ý khóa lại vì trẻ em có nguy cơ bị ngộ độc thuốc hoặc những người khác có thể lạm dụng hoặc sử dụng sai.
Nếu thuốc có bao bì thì nên để trong bao bì nguyên bản của thuốc, kể cả tờ hướng dẫn sử dụng thuốc. Nên ghi chú thuốc cho trẻ em và người lớn riêng. Nếu thuốc quá hạn dùng phải bỏ đi, thay thuốc mới vào.
Mỗi gia đình nên có một tủ thuốc riêng để bảo quản thuốc
Nên sắp xếp thuốc theo từng nhu cầu sử dụng, ghi chú tác dụng và hạn dùng của các loại thuốc

Cách sử lý với thuốc hết hạn trong gia đình
Thực tế, các thuốc được cất giữ trong tủ thuốc tại nhà rất dễ bị lãng quên, sử dụng sai, và lạm dụng. Theo FDA, Mỹ :"Tỷ lệ lạm dụng thuốc kê đơn ở nước này đang ở mức đáng báo động, đặc biệt là số lượng các vụ ngộ độc ngẫu nhiên và quá liều do những loại thuốc này. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều loại thuốc kê đơn bị lạm dụng thu được từ gia đình và bạn bè, kể cả từ các tủ thuốc gia đình ".
Cuối cùng, những thuốc hết hạn này không chỉ có thể gây nguy hiểm đối với những người mà họ kê đơn cho, mà còn có thể gây nguy hiểm cho trẻ em và vật nuôi nếu nhầm lẫn dùng phải. Với  tất cả những lý do này, việc xử lý thích hợp các loại thuốc không cần dùng đến là cần thiết!
FDA khuyến cáo rằng chỉ một số ít các loại thuốc là có thể được xử lý bằng cách xả xuống bồn rửa hoặc nhà vệ sinh vì khi tình cờ tiếp xúc các loại thuốc này có thể gây hại hoặc đôi khi gây tử vong như các thuốc…
Ngoài ra bạn có thể xử lý hầu hết các loại thuốc đã hết hạn trong thùng rác hộ gia đình. Trộn thuốc với một số chất như bụi bẩn, phân mèo hoặc bã cà phê... Đặt hỗn hợp vào trong một túi nilon hoặc túi nhựa bịt kín, và ném chúng trong thùng rác hộ gia đình.


Tài liệu tham khảo:
Don’t Be Tempted to Use Expired Medicines, FDA,9/2/2016, <http://goo.gl/LdlP3q>

Dược thư, Bộ Y tế, 12/10/2012, <http://goo.gl/RWnbQ9>

mercredi 2 mars 2016

HỘI CHỨNG HỦY HOẠI ỐNG DẪN MẬT DO MEROPENEM

HỘI CHỨNG HỦY HOẠI ỐNG DẪN MẬT DO MEROPENEM
Dịch: Nguyễn Phương Quỳnh


Hội chứng hủy hoại ống dẫn mật (Vanishing bile duct syndrome – VBDS) là một hội chứng rất hiếm gặp nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây tử vong do phá hủy các ống dẫn mật nhỏ nằm bên trong gan, dẫn đến tình trạng ứ mật. Cơ chế gây ra sự hủy hoại biểu mô ống dẫn mật vẫn chưa được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh được ghi nhận có liên quan đến một số thuốc. Meropenem là kháng sinh nhóm carbapenem có phổ rộng, dung nạp tốt, được sử dụng rộng rãi và được dùng điều trị trong nhiễm trùng ổ bụng, nhiễm trùng cấu trúc da - nhiễm trùng da phức tạp, viêm màng não do vi khuẩn ở trẻ em. Chúng tôi trình bày những điểm chứng tỏ đây là ca đầu tiên mắc VBDS do meropenem. Một phụ nữ 60 tuổi được chẩn đoán VBDS sau khi điều trị áp xe não vùng thùy thái dương trái bằng meropenem. Sau 3 tuần dùng thuốc, bệnh nhân bị tổn thương gan ứ mật và tổn thương tế bào gan hỗn hợp kèm theo triệu chứng vàng da và ngứa. Meropenem được nghi ngờ gây ra tổn thương gan, do vậy thuốc được ngưng sử dụng. Các xét nghiệm chẩn đoán đã loại trừ các nguyên nhân khác gây nên tình trạng ứ mật, bao gồm yếu tố miễn dịch và khả năng bị lây nhiễm. Kết quả sinh thiết gan, các biểu hiện tổn thương gan kéo dài, ống dẫn mật bị hủy hoại, kèm theo tình trạng lâm sàng của bệnh nhân rất khớp với chẩn đoán VBDS. Vài tháng sau khi ngưng dùng meropenem, kết quả xét nghiệm chức năng gan của bệnh nhân đã được cải thiện. Kết quả đánh giá phản ứng có hại của thuốc bằng thang điểm Naranjo (6 điểm) cho thấy mối liên hệ giữa meropenem với tiến triển VBDS của bệnh nhân. Để chẩn đoán VBDS và các dạng tổn thương gan do thuốc khác rất cần một danh mục đầy đủ các nghi vấn. Và các bác sĩ lâm sàng nên cân nhắc chẩn đoán VBDS trong trường hợp bệnh nhân sử dụng meropenem bị ứ mật kéo dài, đặc biệt khi các nguyên nhân khác đã được loại trừ.