Viêm mũi dị ứng
theo mùa (sốt mùa cỏ khô – tên tiếng anh "hay fever") ảnh hưởng tới 10-15% người Mĩ, và hàng triệu bệnh nhân
cần thuốc OTC để điều trị. Các triệu chứng viêm mũi dị ứng xảy ra sau một đáp ứng
viêm, liên quan đến giải phóng histamin do lắng đọng các dị nguyên gây dị ứng ở
niêm mạc mũi. Các kháng nguyên đóng vai trò là tác nhân gây VMDU ở đây gồm các
loại phấn hoa, bào tử nấm mốc. VMDU mạn tính là thể bệnh kéo dài nhiều năm và
nguyên nhân gây bệnh thường do khói bụi, lông các loại động vật. Trong số đó, ở một vài BN, bệnh thường nặng
lên vào mùa hè.
|
Những điều bạn cần biết
|
|
Tuổi
Trẻ sơ sinh,
trẻ em, người già
Thời gian mắc bệnh
Triệu chứng
Chảy nước mũi
Xung huyết mũi
Ngứa mũi
Mắt đẫm nước
Kích ứng mắt
Chảy nước mắt
Hắt hơi
Tiền sử
Bệnh mắc kèm
Eczema
Hen suyễn
Thuốc
|
Tuổi
Các triệu chứng của VMDU có thể
khởi phát ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng thường ở trẻ em và người trẻ tuổi hơn (lứa
tuổi hay mắc bệnh nhất từ 20-30 tuổi). Có mối liên quan giữa tiền sử gia đình dị
ứng và bệnh. Do đó, con cái những bệnh nhân VMDU có nguy cơ mắc bệnh cao hơn
bình thường. Nguy cơ mắc bệnh cũng giảm dần theo độ tuổi. Do đó, yếu tố tuổi
tác phải được xem xét khi chỉ định thuốc cho bệnh nhân. Với những đối tượng trẻ
tuổi thường phải lo học hành, thi cử, kiểm tra nên cần cân nhắc các thuốc điều
trị, tốt nhất nên tránh dùng thuốc có thể gây buồn ngủ trên các bệnh nhân này.
Thời gian mắc bệnh
Nhiều bệnh nhân mô tả bị VMDU
theo mùa khi mà lượng phấn hoa phát tán nhiều hơn. Các triệu chứng bệnh có thể
bắt đầu vào tháng 4 khi mà phấn hoa phát tán, và mùa dễ mắc VMDU ở miền nam nước
Anh có thể sớm hơn 1 tháng so với miền bắc. Cao điểm bệnh VMDU là vào giữa
tháng 5 tới tháng 7- khoảng thời gian phấn hoa rộ nhiều nhất trong năm và điều
kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển bệnh. Vì thế rất nhiều BN tìm đến các
Dược sĩ để được tư vấn. Một vài bệnh nhân bị cảm lạnh mùa hè, có lẽ trong vài
tuần, có thể là do VMDU. Bào tử nấm cũng là một nguyên nhân nhưng gây bệnh hơi
muộn hơn, thường vào tận tháng 12. Bệnh nhân có thể mắc những triệu chứng như cảm
nhẹ trong một thời gian dài mà không hề biết họ bị VMDU mạn tính.
Phân loại VMDU gồm:
VMDU gián đoạn: Bệnh kéo dài ít hơn 4
ngày trong 1 tuần hoặc ít hơn 4 tuần.
VMDU dai dẳng: Kéo dài hơn 4 ngày
1 tuần và trên 4 tuần
VMDU mức độ nhẹ: BN ngủ nghỉ, hoạt
động, làm việc ....bình thường; các triệu chứng không đáng lo ngại.
VMDU mức độ trung bình: một hay
nhiều các hoạt động như ngủ nghỉ, làm việc, học tập ... không được như bình thường,
các triệu chứng đáng lo ngại.
Triệu chứng
Chảy nước mũi
Là triệu chứng thường gặp của bệnh. Nước
mũi thường loãng, trong, nhiều nước, nhưng cũng có thể chuyển sang đặc hơn, có
màu và có mủ. Những triệu chứng này gợi ý tới một nhiễm trùng thứ phát, mặc dù
việc điều trị bệnh không có gì thay đổi. Và không cần thiết phải sử dụng kháng
sinh để điều trị nhiễm trùng thứ phát này.
Nghẹt mũi
Đáp ứng viêm gây ra bởi tác nhân gây dị ứng, gây xung huyết, làm giãn các mao mạch
mũi, kết quả là gây nghẹt mũi. Nếu tình trạng nghẹt mũi nghiêm trọng có thể dẫn
đến đau đầu, và đôi khi là đau tai. Nhiễm trùng thứ phát như viêm tai giữa,
viêm xoang có thể xảy ra. (xem trang 21)
Ngứa mũi
Ngứa mũi thường xảy ra. Đôi khi
còn có thể bị kích ứng, ngứa ở vòm miệng.
Các biểu hiện ở mắt
Mắt có thể bị kích ứng, chảy nước mắt; do tắc ống lệ. Nguyên nhân cũng là do bị
kích ứng bởi phấn hoa, gây đáp ứng viêm tại chỗ. Những kích ứng tại mũi do phấn
hoa có thể cũng góp một phần gây ra các biểu hiện như trên tại mắt. Một số bệnh
nhân có các biểu hiện viêm mũi dị ứng trầm trọng có thể tăng nhạy cảm với ánh
sáng, vì vậy nên đeo kính râm để tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng.
Hắt hơi
Trong VMDU, đáp ứng bệnh thường bắt đầu bằng triệu chứng hắt hơi, sau đó đến chảy
nước mũi, và tiếp đến là ngạt mũi. Các triệu chứng bệnh thường tăng lên về sáng
và tối, bởi vì phấn hoa sẽ lơ lửng trong không khí cả ngày, sau khi được phát
tán vào buổi sáng và dần lắng xuống vào buổi tối. Một số bệnh nhân cũng có thể
mô tả lại rằng bệnh của họ nặng hơn vào những ngày nhiều gió - khi phấn hoa được
phát tán nhiều hơn; giảm khi trời mưa, hoặc là sau mưa, khi không khí trở nên
trong lành và ít phấn hoa bay lơ lửng. Ngược lại, với những bệnh nhân mắc do dị
ứng nấm mốc, các triệu chứng sẽ nặng thêm trong điều kiện thời tiết ẩm ướt.
Tiền sử
VMDU trở nên phổ biến vào vài
năm trở lại đây. Bệnh có thể xảy ra ở bất kì độ tuổi nào, vì vậy không quan trọng
là bệnh nhân đã có tiền sử mắc VMDU chưa. Số ca mắc VMDU tăng lên trong suốt thập
kỷ qua. Tình trạng ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm ở khu đô thị đã góp phần to lớn
gây nên vấn nạn này. Viêm mũi mạn tính và viêm mũi dị ứng theo mùa có thể được
phân biệt bởi thời gian xuất hiện triệu chứng và diễn biến bệnh. Bệnh nhân có
tiền sử mắc VMDU trước đó cần được dược sĩ tư vấn, khi các triệu chứng nặng
thêm vào những tháng mùa hè.
Các dấu hiệu nguy hiểm và yếu tố liên quan
Khi xuất hiện các biểu hiện
như: tức ngực, thở khò khè, khó thở hay ho, bệnh nhân được khuyên nên lập tức gặp
bác sĩ. Bởi những dấu hiệu này có thể báo trước cho một cơn hen khởi phát.
Thở khò khè
Các biểu hiện như khó thở, có
thể kèm theo ho là gợi ý sẽ dẫn đến một cơn hen sau đó. Một số bệnh nhân chỉ bị
hen trong mùa mắc VMDU (hen theo mùa). Giai đoạn này có thể khá nghiêm trọng và
yêu cầu cần được tư vấn. Bệnh hen theo mùa thường không có thuốc điều trị đầu
tay thích hợp bởi các cơn hen xuất hiện không thường xuyên, vì vậy, những bệnh
nhân này có nguy cơ cao hơn bị cơn hen do không dùng thuốc phòng.
Đau tai
mặt
Tương tự như cảm lạnh và cảm cúm (xem trang 21), VMDU hoàn toàn có thể đẫn đến một
nhiễm trùng thứ phát ở tai giữa (viêm tai giữa), hoặc ở xoang (viêm xoang). Cả
2 nhiễm trùng thứ phát này đều gây đau dai dẳng kéo dài.
Viêm kết mạc mủ
Chảy nước mắt và kích ứng mắt thường đi kèm với VMDU. Đôi khi, viêm kết mạc do
dị ứng rất phức tạp và là một nhiễm trùng thứ phát; với những biểu hiện như: đau
mắt (cảm giác như mắt có sạn), mắt đỏ hơn, nước mắt bình thường trong biến
thành có màu và dính (có mủ). Trong trường hợp này, BN cần thông báo với nhân
viên y tế.
Thuốc
Dược sĩ phải luôn hỏi tiền sử dùng thuốc của BN, tất cả thuốc kê đơn và
thuốc không kê đơn. Nhờ đó mới có thể phát hiện ra tương tác thuốc tiềm tàng giữa
các thuốc được dùng và các kháng histamin điều trị. Cần thiết phải tìm hiểu những
thuốc mà BN đã dùng để điều trị triệu chứng bệnh, đặc biệt trong trường hợp BN
có tiền sử VMDU. Bên cạnh đó người DS cần nhận biết các tương tác thuốc làm
tăng các tác dụng phụ như lơ mơ, ngủ gà do dùng kháng histamin phối hợp các thuốc
khác. Tác dụng không mong muốn gây buồn ngủ này có thể gây nguy hiểm cho bệnh
nhân làm một số ngành nghề nhất định, hay trong khi lái xe.
Thất bại trong điều trị
Nếu điều trị bằng các thuốc OTC
không kiểm soát tốt các triệu chứng bệnh, lúc này bệnh nhân cần tới thăm khám
bác sĩ, để giúp bệnh nhân tin tưởng điều trị và có thêm hiểu biết về VMDU, từ
đó kiểm soát bệnh tốt hơn. Đồng thời cũng giúp BN chuẩn bị tốt cho mình nếu BN
tái phát VMDU vào mùa sau.
|
Khi nào cần đi khám bệnh
|
|
Khò khè, khó thở
Tức ngực
Viêm tai
Viêm xoang
Viêm kết mạc có mủ
Thất bại điều trị
|
Thời gian điều trị
Nhanh chóng điều trị để cải thiện
triệu chứng ngay trong những ngày đầu. Nếu
sau 5 ngày, tình trạng bệnh không có tiến triển, bệnh nhân cần lập tức tới khám
bệnh để được bác sĩ điều trị thích hợp.
Quản lý bệnh
Quản lý bệnh phụ thuộc các triệu
chứng mang tính chất liên tục hay gián đoạn, mức độ nhẹ hay trung bình. Điều trị
gồm: kháng histamin, steroid dùng theo đường mũi, Natri cromoglycat dạng bào chế
cho mắt và mũi. Các kháng histamin không kê đơn và thuốc xịt mũi steroid khá có
hiệu quả trong điều trị VMDU. Lựa chọn thuốc điều trị phải phù hợp và căn cứ
vào các triệu chứng bệnh và tiền sử bệnh nhân. Nhiều trường hợp bệnh nhân VMDU
có thể chỉ cần điều trị bằng thuốc OTC với sự tư vấn của dược sĩ. Nếu bệnh nhân
đã dùng thuốc OTC trên nhưng không có đáp ứng tốt, cần tới bác sĩ để được khám
bệnh trực tiếp. Lúc này người dược sĩ lại có vai trò quan trọng trong việc tư vấn,
hướng dẫn để đảm bảo bệnh nhân sử dụng chính xác các thuốc đã được bác sĩ kê
đơn (ví dụ như: hướng dẫn dùng các thuốc steroid dạng xịt, loại thuốc phải được
dùng thường xuyên để làm giảm các triệu chứng VMDU cho BN)
Các kháng histamin
Nhiều dược sĩ dùng kháng
histamin như chỉ định đầu tay trong điều trị VMDU từ nhẹ đến trung bình, kể cả
VMDU gián đoạn hay liên tục. Các kháng histamin tác dụng tốt trong điều trị làm
giảm nhẹ các triệu chứng hắt hơi, sổ mũi; nhưng lại ít có tác dụng làm giảm ngạt
mũi. Một vài kháng histamin không gây buồn ngủ sẵn có trong danh mục thuốc OTC
gồm: acrivastin, cetirizin và loratadin. Tất cả các thuốc này đều có tác dụng
giảm nhẹ triệu chứng khó chịu của VMDU và có ưu điểm ít gây buồn ngủ hơn các
kháng histamin thế hệ cũ.
Cetirizin và loratadin chỉ dùng 1 lần/1 ngày, trong khi acrivastin lại dùng 3 lần/1
ngày. Loratadin không kê đơn có thể dùng cho trẻ em trên 2 tuổi, cetirizin chỉ
định được cho trẻ em trên 6 tuổi và acrivastin là trên 12 tuổi.
Cả 3 thuốc trên hầu như không gây tác dụng phụ buồn ngủ, có thể khuyên bệnh
nhân thử điều trị trong vòng 1 ngày trước khi lái xe hay vận hành máy móc.
Loratadin có tác dụng an thần hơn 2 thuốc còn lại, tuy nhiên rất hiếm xảy ra
tai nạn do tác dụng gây buồn ngủ của thuốc này.
Acrivastin, cetirizin và loratadin có thể được chỉ định trong một số trường hợp
dị ứng da khác như dị ứng da kéo dài, mày đay.
Các kháng histamin thế hệ cũ như promethazin và diphenhydramin có thể gây tác dụng
an thần gây ngủ. Quả thực, trong thực tế, ở Mỹ các thuốc này được bán không kê
đơn một cách rộng rãi để điều trị chứng rối loạn giấc ngủ nhất thời (xem trang
318). Thời gian bán thải (t1/2) của diphenhydrazin là 5-8 giờ ngắn hơn so với t1/2
của promethazin là 8-12 giờ, nên ít gây tích lũy thuốc, do đó ít gây buồn ngủ
hơn promethazin.
Một số thuốc kháng histamine thế hệ cũ khác tương đối ít tác dụng an thần , như
chlorphenamine (chlorpheniramine). Có thể do bệnh nhân dung nạp với tác dụng an
thần của thuốc. Nhìn chung tác dụng kháng cholinergic của histamin thế hệ mới là
ít hơn thế hệ cũ.
Tương tác thuốc
Tác dụng an thần gây ngủ của các
kháng histamine thế hệ cũ tăng lên khi BN uống rượu, dùng kèm các thuốc gây ngủ,
giảm đau, an thần. Do đó cần khuyến cáo cho BN.
Nồng độ trong huyết tương của các kháng
histamin thế hệ mới có thể bị tăng bởi ritonavir. Amprenavir và cimetindin có
thể làm tăng nồng độ loratadine trong máu. Về mặt lý thuyết, các histamine bị đối
kháng tác dụng bởi betahistine.
Tác dụng phụ
TDKMM lớn nhất của các kháng
histamine thế hệ cũ là gây buồn ngủ. Ngoài ra, do cơ chế kháng cả hệ
cholinergic nên các kháng histamin thế hệ cũ còn có thể gây khô miệng, nhìn mờ,
táo bón, bí tiểu. Những TDKMM này sẽ gia tăng nếu BN dùng kèm theo các thuốc
kháng cholinergic khác như: thuốc chống trầm cảm 3 vòng, thuốc an thần.
Ở nồng độ rất cao, các kháng histamine
có thể gây tác dụng kích thích thần kinh trung ương hơn là tác dụng ức chế, và
thường hay gặp ở trẻ em hơn. Ở nồng độ gây độc, cũng đã có những báo cáo ca lâm
sàng được báo cáo. Theo như kết quả chỉ ra, kháng histamine có thể được chỉ định
cho bệnh nhân động kinh, tuy nhiên về mặt lý thuyết lại có thể gây ra nhiều
nguy cơ khác.
Kháng histamin chống chỉ định tuyệt đối cho bệnh nhân glaucom góc hẹp và
glaucom góc đóng, bởi vì cơ chế kháng cholinergic của thuốc có thể gây tác dụng
tăng nhãn áp. Thận trọng dùng thuốc cho người bị bệnh gan và người phì đại tuyến
tiền liệt.
Các thuốc có tác dụng làm thông mũi
Dùng uống hay nhỏ các thuốc có
tác dụng làm thông mũi một cách đơn độc hoặc phối hợp với kháng histamin trong
thời gian ngắn để điều trị triệu chứng nghẹt mũi. Với những bệnh mới bắt đầu điều
trị, dùng các thuốc như corticosteroid đường mũi (VD:betaclomethason) hay Natri
cromoglicat có tác dụng tốt do giúp làm thông mũi, nhờ đó thuốc có thể phân bố
vào niêm mạc mũi. Tuy nhiên các thuốc dùng tại chỗ này có thể gây hiện tượng “dội
ngược” ( làm tăng nghẹt mũi), đặc biệt nếu dùng kéo dài; do đó khuyến cáo không
dùng quá 1 tuần. Các thuốc tác dụng thông mũi đường uống thường có chứa thành
phần pseudoephedrin. Cách dùng, tương tác thuốc, TDKMM xem trong phần bệnh “Cảm
lạnh và cảm cúm” ( trang 24-25)
Các thuốc nhỏ mắt
Thành phần gồm 1 kháng histamin
phối hợp với 1 chất cường giao cảm và rất sẵn có trên thị trường, tác dụng điều
trị các triệu chứng khó chịu ở mắt khá tốt đặc biệt với những trường hợp các
triệu chứng này là gián đoạn. Tác dụng cường giao cảm như co mạch, làm giảm
kích ứng và giảm đỏ mắt. Cũng chính bởi tác dụng gây co mạch này, một số bệnh
nhân có thể cảm thấy đau nhói, châm chích lần đầu dùng thuốc. Các thuốc nhỏ mắt
có thành phần gây co mạch như trên không nên chỉ định cho người bệnh tăng nhãn
áp hoặc những người đeo kính áp tròng.
Thuốc xịt mũi steroid
Thuốc xịt mũi beclomethason (dạng
xịt nước hơn là dạng phun mù) và bình xịt mũi định liều fluticasone có thể chỉ
định trong điều trị bệnh VMDU theo mùa.
Thuốc xịt mũi steroid được lựa chọn điều trị thường xuyên trong các trường
hợp VMDU từ trung bình tới nặng. Thuốc làm giảm các triệu chứng viêm do đáp ứng
dị ứng. Bệnh nhân cần sử dụng thuốc này thường xuyên trong suốt thời gian bệnh
để đạt tác dụng tốt nhất. Nếu xuất hiện các dấu hiệu VMDU,bệnh nhân cần dùng
thuốc trong vài ngày để đạt được tác dụng đầy đủ.
TDKMM của thuốc bao gồm: khô và kích ứng mũi họng, chảy máu cam; các tác dụng
phụ khác rất hiếm xảy ra. Thuốc xịt mũi clometasone và beclometasone có thể
dùng cho người trên 18 tuổi tối đa trong 3 tháng. Khuyến cáo không nên dùng thuốc
cho phụ nữ có thai và bệnh nhân glaucom.
Cần cảnh báo cho bệnh nhân dùng steroid đường uống tác dụng mạnh do TDKMM
có thể xảy ra. Do đó, người dược sĩ cần giải thích cho bệnh nhân về thuốc cũng
như các tác động của nó tới cơ thể.
Natri cromoglicat:
Natri cromoglicat là thuốc bán
không kê đơn phổ biến, có dạng bào chế nhỏ mũi , xịt mũi và nhỏ mắt. Nếu dùng
đúng, thuốc cho hiệu quả điều trị rất tốt. Bệnh nhân nên dùng thuốc ít nhất 1
tuần trước mùa bệnh và dùng thường xuyên sau đó. Thuốc hầu như không gây tác dụng
phụ, có thể chỉ gây kích ứng mũi nhẹ.
Thuốc nhỏ mắt cromoglicat có tác dụng làm giảm nhẹ các triệu chứng khó chịu ở mắt
ngay cả khi bệnh nhân không đáp ứng với kháng histamine. Nên nhỏ thuốc thường
xuyên 4 lần/1 ngày để có hiệu quả tốt nhất. Thành thần thuốc nhỏ mắt
cromoglicat có chứa chất sát khuẩn benzalkonium, và không nên dùng cho người
đeo kính áp tròng.
Các kháng histamin dùng tại chỗ
Điều trị tại chỗ niêm mạc mũi
Azelastine là 1 dạng thuốc xịt dùng điều trị VMDU. BNF đưa ra gợi ý nên bắt đầu
dùng thuốc trước từ 2-3 tuần trước mùa bệnh. Đây được coi là thuốc điều trị
thay thế cho người cao tuổi và trẻ em trên 5 tuổi. Lưu ý khi xịt thuốc, BN nên giữ
thẳng đầu, tránh để thuốc xuống họng gây vị khó chịu.
Lời khuyên
1. Đóng cửa kính ô tô và thông gió khi lái xe, nếu không phấn hoa có
thể bay vào bên trong, với mật độ lớn, có thể gây dị ứng.
2. Bụi bẩn là một nguy cơ gây
VMDU. Do đó, thường xuyên lau dọn nhà cửa sạch sẽ, giảm bụi bẩn tới mức thấp nhất
có thể giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh. Tốt nhất nên sử dụng máy hút bụi, loại máy
này cũng được bán rộng rãi trên thị trường.
Ca lâm sàng VMDU
Ca 1
Một nam thanh niên đến khám vào cuối tháng 3.
Anh ta muốn bạn có thể tư vấn thêm cho mình về VMDU. Khi được hỏi, anh ta nói
chưa từng bị VMDU trước đó, nhưng một vài người bạn của anh ấy đã mắc VMDU và
anh ấy nghĩ mình cũng bị tương tự. Bệnh nhân bị chảy nước mắt nhẹ, nước mắt
trong, thở khò khè mấy hôm nay. Ngoài ra còn chảy nước mũi và hơi nghẹt mũi. Dù
không phải lái xe, nhưng anh ta còn là sinh viên và có kỳ thi vào tuần tới. Bệnh
nhân chưa dùng bất cứ thuốc gì.
Quan điểm của dược sĩ
Bệnh nhân lần đầu tiên mắc VMDU
với những triệu chứng điển hình. Trong đó các biểu hiện ở mũi gây khó chịu nhất:
chảy nước mũi, ngạt mũi, vì vậy khuyên người bệnh nên dùng thuốc xịt mũi
corticosteroid, cân nhắc đã đủ 18 tuổi hay chưa. Nếu bệnh nhân này dưới 18 tuổi,
có thể dùng kháng histamin uống hay dùng tại chỗ, lưu ý cậu thanh niên này sắp
thi, nên tránh kháng histamin thế hệ cũ gây buồn ngủ là tốt nhất. Mắt bệnh nhân
bị kích ứng nhẹ, không đáng quan ngại lắm. Bệnh nhân chưa dùng bất cứ thuốc điều
trị gì từ trước, do đó có thể khuyên dùng acrivastin, loratadine hoặc
cetirizine. Nếu sau vài ngày, các triệu chứng không được cải thiện, khuyên bệnh
nhân đi gặp bác sĩ.
Quan điểm của bác sĩ
Với trường hợp này, thuốc xịt
mũi corticosteroid có hiệu qua hơn cả. Nếu bệnh nhân chưa đủ 18 tuổi, không được
sử dụng thuốc OTC này, có thể thử điều trị bằng acrivastine, loratadine hoặc
cetirizine. Mặc dù thông thường các thuốc trên đều không gây buồn ngủ, tuy
nhiên trên một số bệnh nhân, tác dụng phụ này vẫn có thể xảy ra. Do đó, khuyên
bệnh nhân không uống liều đầu tiên ngay trước kì thi. Nếu các triệu chứng không
cải thiện, cần cân nhắc lại lựa chọn điều trị. Đồng thời, nếu dùng kháng
histamin không kiểm soát tốt các triệu chứng kích ứng ở mắt, có thể cho BN dùng
thêm thuốc nhỏ mắt natri cromorglicat sẽ tốt hơn. Chú ý cân nhắc chọn kháng
histamin thế hệ cũ vì một số BN không bị tác dụng phụ gây buồn ngủ của thuốc.
Ca 2
Một phụ nữ gần 30 tuổi muốn được tư vấn. Bệnh nhân giới thiệu bị VMDU, ngạt
mũi, khó thở. Khai thác tiền sử cho thấy bệnh nhân đã mắc các triệu chứng trên
trong vài ngày,ngày một nặng thêm. Bệnh nhân bị VMDU suốt mùa hè và luôn phải uống
chlorphenamin dạng viên nén để kiểm soát triệu chứng, hiện tại vẫn đang dùng
thuốc này. BN bị eczema khá nặng từ lúc nhỏ, thỉnh thoảng vẫn mắc lại. Vài ngày
trước bệnh nhân có thở khò khè, nhưng không ho: cả ho khan hay ho có đờm. Bệnh
nhân chưa dùng bất cứ thuốc gì khác ngoài chlorphenamin để điều trị.
Ý kiến của dược sĩ
Bệnh nhân có tiền sử VMDU, được
điều trị tốt bằng chlorphenamin uống. Tuy nhiên vài ngày lại đây, bệnh nặng hơn
và có thở khò khè. BN không có vẻ là có một nhiễm trùng vùng ngực là nguyên
nhân của những triệu chứng tăng nặng trên. Bệnh nhân nên đi khám bác sĩ ngay,
trước khi có thể gặp các biểu hiện gợi ý đến tình trạng nguy hiểm hơn như hen phế
quản.
Ý kiến của bác sĩ
Nên khám bác sĩ ngay. Gần như chắc chắn phụ nữ này mắc bệnh hen theo mùa. Bên cạnh
điều trị VMDU theo tư vấn của dược sĩ, bệnh nhân có thể dùng 1 steroid dạng hít
như beclomethason sẽ có hiệu quả tốt. Ngoài ra, phụ thuộc vào mức độ bệnh, có
thể chỉ định thuốc cường β-adrenergic như salbutamol dạng hít. Tuy nhiên, sẽ
khó khăn cho bác sĩ khi trong vòng khoảng 10 phút vừa phải thăm khám, cung cấp thông tin cho bệnh nhân, giải thích vấn
đề, lý do phải điều trị và kĩ thụât sử dụng dạng thuốc hít.
Nguồn: Alison Blenkinsopp, Paul Paxton
and John Blenkinsopp.
Symptoms in the Pharmacy - A Guide to management of
common illnesses 7th.
Dịch: Đặng Thị Huyền Trang, SV năm 4, ĐH
Dược HN.
Hiệu đính: DS. Võ Thị Hà, ĐH Y Dược Huế