vendredi 13 février 2015

Ung thư là gì?

Thông tin giành cho bệnh nhân và cộng đồng

Ung thư là tên gọi chung cho một nhóm gồm hơn 100 bệnh khác nhau. Mặc dù có nhiều loại ung thư khác nhau nhưng tất cả đều có đặc điểm chung là bắt nguồn từ việc tế bào tăng sinh bất thường  không kiểm soát được. Ung thư không được điều trị có thể dẫn đến tử vong.
(Ảnh từ Google)

 
Các tế bào bình thường trong cơ thể
Cơ thể được tạo thành từ hàng triệu tế bào sống. Các tế bào bình thường lớn lên, phân chia và chết theo chu trình. Trong suốt những năm đầu đời, tế bào bình thường phân chia nhanh hơn cho phép cơ thể lớn lên. Sau khi trưởng thành, phần lớn các tế bào chỉ phân chia để thay thế các tế bào lão hóa hoặc tế bào chết hoặc để làm lành vết thương.

Ung thư bắt đầu như thế nào?
Ung thư bắt đầu khi các tế bào ở một bộ phận nào đó của cơ thể tăng sinh không kiểm soát được. Sự phát triển  của các tế bào ung thư khác so với tế bào bình thường. Thay vì chết đi, các tế bào ung thư tiếp tục phát triển và tạo thành các tế bào bất thường mới. Các tế bào ung thư cũng phát triển và xâm lấn sang các mô khác. Tăng sinh không kiểm soát và xâm lấn sang mô khác là đặc điểm nổi bật của tế bào ung thư.
Các tế bào trở thành tế bào ung thư vì ADN bị tổn thương. ADN là phân tử chứa các gen được mã hóa, có mặt ở mọi tế bào và điều khiển mọi hoạt động của tế bào. Ở tế bào bình thường, khi ADN bị tổn thương  thì tế bào hoặc sửa chữa ADN hoặc chết đi. Ở tế bào ung thư, ADN bị tổn thương không được sửa chữa và tế bào cũng không chết đi. Thay vào đó, tế bào tiếp tục phát triển và tạo thành những tế bào mới mà cơ thể không cần. Tất cả những tế bào mới này đều có ADN bị tổn thương như tế bào bất thường ban đầu.

Một người có thể có ADN bất thường (di truyền từ bố mẹ), nhưng phần lớn ADN  bị tổn thương là lỗi xảy ra khi tế bào bình thường đang sao chép hoặc bởi tác động từ môi trường. Đôi khi, nguyên nhân của việc tổn thương  ADN có thể là hút thuốc lá hoặc phơi nhiễm với ánh sáng mặt trời. Nhưng hiếm khi chúng ta biết được chính xác nguyên nhân gây ung thư.

Phần lớn các trường hợp, tế bào ung thư tạo thành một khối u (bướu). Qua thời gian, các khối u này có thể thay thế tế bào bình thường, chèn ép hoặc đẩy các tế bào bình thường về một phía. Một vài loại ung thư, như ung thư bạch cầu, hiếm khi tạo thành các khối u. Thay vào đó, các tế bào ung thư này ảnh hưởng đến máu và cơ quan tạo máu và lan sang các mô khác khi chúng phát triển.

Ung thư phát triển như thế nào?
Các tế bào ung thư thường đi qua các bộ phận khác của cơ thể - nơi mà chúng có thể phát triển và tạo thành mô mới (quá trình này gọi là ung thư di căn). Điều này xảy ra khi các tế bào ung thư xâm nhập vào máu hoặc hạch bạch huyết. Ung thư có thể phát triển ở bất cứ đâu, nó được gọi theo tên của nơi tế bào ung thư được phát hiện đầu tiên. Ví dụ, ung thư ruột di căn đến gan gọi là ung thư ruột đã di căn, không phải ung thư gan. Trong trường hợp này, các tế bào ung thư  ở gan cũng giống như các tế bào ung thư ở ruột. Chúng sẽ được điều trị như nhau.

Các loại ung thư khác nhau thế nào?
Các loại ung thư khác nhau được điều trị khác nhau. Ví dụ, ung thư phổi và ung thư da là hai bệnh khác nhau. Chúng phát triển ở tỷ lệ khác nhau và đáp ứng với các phương pháp điều trị khác nhau. Điều này giải thích tại sao bệnh nhân ung thư cần điều trị đúng với loại ung thư mà bệnh nhân mắc phải.

Khối u không phải ung thư
Một khối u là một bướu hoặc tập hợp các tế bào bất thường, nhưng không phải tất cả các khối u đều là ung thư. Các khối u không phải ung thư được gọi là u lành. U lành có thể gây ra các vấn đề: chúng phát triển rất rộng và chèn ép lên các mô và cơ quan khỏe mạnh. Nhưng chúng không xâm lấn sang các mô khác. Vì chúng không thể xâm lấn nên chúng cũng không thể lây lan sang các cơ quan khác của cơ thể (không di căn). Những khối u này hầu như không đe dọa đến tính mạng. 



Người dịch: DS. Vũ Thị Vân
Người hiệu đính: DS. Võ Thị Hà
Link gốc: Hội Ung thư Mỹ




jeudi 12 février 2015

Phác đồ điều trị tăng huyết áp JNC 8

Thông tin giành cho Nhân viên y tế


So với các Phác đồ điều trị tăng huyết áp trước đây, JNC 8 khuyến cáo mục tiêu huyết áp cao hơn và ít sử dụng hơn một số loại thuốc điều trị tăng huyết áp.
Phác đồ mới nhấn mạnh việc kiểm soát huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương với những ngưỡng điều trị cụ thể theo độ tuổi và bệnh mắc kèm. Phác đồ mới cũng đưa ra các khuyến cáo mới nhằm  đẩy mạnh việc sử dụng an toàn hơn nữa các thuốc ức chế men chuyển (ACEI) và thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARB).


Những thay đổi quan trọng so với JNC 7 bao gồm:
·        Với bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên không có đái tháo đường hay bệnh thận mạn, huyết áp mục tiêu là <150/90 mmHg
·        Với bệnh nhân từ 18 đến 59 tuổi không có bệnh nghiêm trọng mắc kèm và bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên có bệnh đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc cả hai, huyết áp mục tiêu là <140/90 mmHg
·        Điều trị đầu tay và điều trị sau đó nên giới hạn trong 4 nhóm thuốc: lợi tiểu thiazide, chẹn kênh calci (CCB), ACEI, ARB.
·        Điều trị thay thế thứ hai và thứ ba bao gồm việc sử dụng liều cao hay kết hợp các nhóm ACEI, ARB, lợi tiểu thiazide và CCB.
·        Nhiều thuốc được chỉ định như là thuốc thay thế tiếp theo, bao gồm:
     Chẹn beta
     Chẹn alpha
     Chẹn alpha 1/beta (như carvedilol)
     Chẹn beta có tính dãn mạch (như nebivolol)
     Chủ vận alpha 2 trên thần kinh trung ương (như clonidine)
     Giãn mạch trực tiếp (như hydralazine)
     Lợi tiểu quai (như furosemide)
     Đối kháng aldosterone (như spironolactone)
     Đối kháng hoạt tính adrenergic ngoại biên (như reserpine)
·        Khi khởi đầu điều trị, bệnh nhân gốc Phi không có bệnh thận mạn nên sử dụng CCB và thiazide thay vì ACEI
·        Sử dụng ACEI và ARB được khuyến cáo ở mọi bệnh nhân có bệnh thận mạn bất kể dân tộc nào, kể cả điều trị đầu tay hay bổ sung cho điều trị đầu tay
·        ACEI và ARB không nên sử dụng đồng thời trên một bệnh nhân
·        CCB và lợi tiểu thiazide nên được sử dụng thay thế ACEI và ARB ở bệnh nhân trên 75 tuổi có suy giảm chức năng thận do nguy cơ tăng kali huyết, giảm creatinin và suy thận nặng hơn.

Sự thay đổi mục tiêu về huyết áp tâm thu ít chặt hơn có thể gây lo lắng cho những bệnh nhân đang tuân theo mục tiêu thấp hơn của JNC 7, bao gồm mục tiêu <140/90 mmHg cho phần lớn bệnh nhân và <130/80 mmHg cho bệnh nhân tăng huyết áp và các bệnh nghiêm trọng kèm theo

Kết quả từ 5 thử nghiệm quan trọng – HDFP, Hypertension-Stroke Cooperative, MRC, ANBP và VA Cooperative – đã đưa ra bằng chứng cho những thay đổi trong phác đồ mới. Trong các thử nghiệm này, bệnh nhân trong độ tuổi 30 đến 69 được sử dụng thuốc để hạ huyết áp tâm trương tới mức dưới <90 mmHg. Kết quả cho thấy sự giảm biến cố mạch máu não, suy tim và tỉ lệ tử vong chung ở bệnh nhân được điều trị đến mức huyết áp tâm trương mục tiêu.

Dữ liệu thu được đã thuyết phục một số thành viên của Ủy ban JNC 8 muốn giữ mức huyết áp tâm trương <90 mmHg như là mục tiêu duy nhất ở các bệnh nhân trẻ, đồng thời chỉ ra việc thiếu bằng chứng về lợi ích của mục tiêu huyết áp tâm thu dưới 140 mmHg ở bệnh nhân dưới 60 tuổi. Tuy nhiên, nhiều thành viên bảo thủ đề nghị giữ mục tiêu huyết áp tâm thu cũng như mục tiêu huyết áp tâm trương.

Ở các bệnh nhân trẻ không có bệnh nặng mắc kèm, tăng huyết áp tâm trương là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch quan trọng hơn tăng huyết áp tâm thu. Những thành viên của JNC 8 không phải là tác giả đầu tiên nhận ra mối quan hệ này. Tác giả phác đồ JNC 7 cũng thừa nhận rằng kiểm soát huyết áp tâm trương quan trọng hơn việc kiểm soát huyết áp tâm thu trong việc giảm nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân <60 tuổi. Tuy nhiên, ở bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, việc kiểm soát huyết áp tâm thu vẫn đóng vai trò quan trọng nhất.

Các bằng chứng gần đây cho thấy mục tiêu huyết áp tâm thu <140 mmHg được khuyến cáo bởi JNC 7 cho phần lớn bệnh nhân là thấp một cách không cần thiết. Các tác giả JNC 8  đã dẫn chứng 2 thử nghiệm cho thấy không có sự cải thiện hiệu quả tim mạch với mục tiêu huyết áp tâm thu <140 mmHg so với mục tiêu huyết áp tâm thu <160 mmHg hay <150 mmHg. Mặc dù với kết quả này, phác đồ mới không phản đối điều trị đến mục tiêu huyết áp tâm thu <140 mmHg nhưng khuyến cáo nên thận trọng để đảm bảo rằng huyết áp tâm thu thấp không ảnh chất lượng cuộc sống hay dẫn đến biến cố có hại.

Sự điều chỉnh sang mục tiêu dựa trên huyết áp tâm trương có thể dẫn đến việc sử dụng ít thuốc hơn ở bệnh nhân trẻ có chuẩn đoán tăng huyết áp mới và có thể cải thiện sự tuân thủ và giảm tối thiểu biến cố có hại liên quan đến huyết áp tâm thu thấp, chẳng hạn như rối loạn chức năng sinh dục.

Đối với bệnh nhân bị bệnh thận
Mặc dù 1 phân tích hậu định cho thấy lợi ích có thể có đối với hiệu quả trên thận với mục tiêu thấp ở mức 130/80 mmHg do JNC 7 khuyến cáo, 2 phân tích ban đầu lại không ủng hộ kết quả này. Hơn nữa, 3 thử nghiệm khác không cho thấy lợi ích của mục tiêu <130/80 mmHg so với mục tiêu <140/90 mmHg trên bệnh nhân có bệnh thận mạn. Kết quả là phác đồ mới khuyến cáo bệnh nhân có bệnh thận mạn nên dùng thuốc đầy đủ để đạt mức mục tiêu <140/90 mmHg.
Tuy nhiên, có một ngoại lệ đối với mức mục tiêu này, phác đồ khuyến cáo rằng bệnh nhân có bệnh thận mạn hay bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên có albumin niệu nên điều trị dựa trên bệnh mắc kèm, tình trạng suy yếu và các yếu tố khác đặc trưng của bệnh nhân. Bằng chứng chưa đủ để ủng hộ huyết áp mục tiêu <140/90 mmHg ở bệnh nhân trên 70 tuổi có bệnh thận mạn hay albumin niệu.

Đối với bệnh nhân bị Đái tháo đường
Người lớn bị đái tháo đường và tăng huyết áp đồng thời có thể giảm tỉ lệ tử vong cũng như cải thiện hiệu quả trên tim mạch và mạch máu não khi điều trị với mục tiêu huyết áp tâm thu <150 mmHg, nhưng không có nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) nào ủng hộ mục tiêu <140/90 mmHg. Mặc dù vậy, ủy ban đã chọn một khuyến cáo thận trọng cho bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp, lựa chọn mục tiêu <140/90 mmHg cho người lớn có đái tháo đường và tăng huyết áp hơn là một mục tiêu thực chứng <150/90 mmHg.

Theo dõi
Các tác giả của JNC 8 đơn giản hóa khuyến cáo phức tạp cho việc theo dõi bệnh nhân tăng huyết áp. Hội đồng JNC 7 khuyến cáo rằng sau khi đo huyết áp cao ban đầu thì tiếp tục theo dõi để khẳng định huyết áp cao trong 7 ngày đến 2 tháng tùy vào chỉ số ban đầu là bao nhiêu và bệnh nhân có bệnh thận hay tổn thương cơ quan đích do huyết áp cao hay không? Theo JNC 7, trong mọi trường hợp, huyết áp mục tiêu nên đạt được trong vòng một tháng từ khi bắt đầu điểu trị bằng cách tăng liều của một thuốc khởi đầu hay dùng phối hợp thuốc.

Điều trị
Giống như JNC 7, hội đồng JNC 8 khuyến cáo sử dụng lợi tiểu thiazid như là liệu pháp khởi đầu cho mọi bệnh nhân. Mặc dù ACEI, ARB và CCB là sự thay thế chấp nhận được nhưng lợi tiểu thiazide vẫn có bằng chứng tốt nhất về hiệu quả.
Hội đồng JNC 8 không khuyến cáo liệu pháp đầu tay bằng chẹn beta và chẹn alpha. Điều này là dựa trên kết quả của 1 thử nghiệm, trong đó chỉ ra tỉ lệ cao các biến cố tim mạch khi sử dụng chẹn beta so với dùng ARB, và một thử nghiệm khác với chẹn alpha so với 4 liệu pháp đầu tay với carvedilol, nebivolol, clonidin, hydralazin, reserpin, furosemid, spironolacton và các thuốc tương tự khác cho thấy không nên dùng bất kỳ thuốc nào khác ACEI, ARB, CCB và lợi tiểu thiazid cho phần lớn các bệnh nhân.
Theo JNC 8, trước khi dùng chẹn alpha, chẹn beta hay bất kỳ phối hợp nào, bệnh nhân nên được điều chỉnh liều và sử dụng phối hợp trong 4 liệu pháp đầu tay. Liệu pháp 3 thuốc với một ACEI/ARB, CCB và lợi tiểu thiazide được ưu tiên trước khi sử dụng chẹn alpha, chẹn beta hay bất kỳ thuốc nào khác.
Phác đồ mới này ngăn việc sử dụng chẹn beta (bao gồm cả nebivolol), chẹn alpha, lợi tiểu quai, chẹn beta/alpha1, chủ vận alpha2-adrenergic trung ương, giãn mạch trực tiếp, đối kháng aldosteron và đối kháng hoạt tính adrenergic ngoại biên ở bệnh nhân mới được chuẩn đoán tăng huyết áp. Thận trọng với các bệnh nhân đã ổn định với các liệu pháp này.

Cân nhắc điều trị đặc biệt
 ACEI và ARB có lẽ không phải là lựa chọn lý tưởng cho bệnh nhân gốc Phi. Kết quả phân tích một phân nhóm trong thử nghiệm ALLHAT (Antihypertensive and Lipid Lowering Treatment to Prevent Heart Attack Trial – Thử nghiệm điều trị tăng huyết áp và hạ lipid máu để phòng suy tim) cho thấy rằng ACEI đưa đến hậu quả tim mạch tệ hơn so với lợi tiểu thiazid hay CCB ở bệnh nhân gốc Phi. Mặc dù thế, kết quả của nghiên cứu AASK (African American Study of Kidney Disease and Hypertension – Nghiên cứu Mỹ Phi về bệnh thận và tăng huyết áp) ủng hộ dùng ACEI đầu tay hay bổ sung để cải thiện hiệu quả trên thận ở bệnh nhân tăng huyết áp gốc Phi có bệnh thận mạn và đạm niệu.
Tóm lại, thành viên hội đồng JNC 8 khuyến cáo rằng tất cả các bệnh nhân có bệnh thận mạn và tăng huyết áp bất kể dân tộc nào cũng nên điều trị bằng ACEI hay ARB để bảo vệ chức năng thận trong cả liệu pháp khởi đầu hay bổ sung.
Một ngoại lệ trong sử dụng ACEI hay ARB để bảo vệ chức năng thận là áp dụng với bệnh nhân trên 75 tuổi. Hội đồng dẫn theo tiềm năng của ACEI và ARB làm tăng creatinin huyết thanh và tăng Kali huyết. Tóm lại, với bệnh nhân trên 75 tuổi có giảm chức năng thận, lợi tiểu thiazid hay CCB có thể thay thế hợp lý cho ACEI hay ARB.

Thay đổi lối sống
Tương tự JNC 7, JNC 8 cũng khuyến cáo thay đổi lối sống như là một phần quan trọng của liệu pháp. Can thiệp lối sống bao gồm việc sử dụng kế hoạch ăn uống DASH (Dietary Approaches to Stop Hypertension), giảm cân, giảm nhập Natri dưới 2,4 gam mỗi ngày và hoạt động thể dục ít nhất 30 phút trong phần lớn các ngày trong tuần. Hơn nữa, để làm chậm tiến triển của tăng huyết áp, cải thiện ảnh hưởng hạ huyết áp của các thuốc và giảm nguy cơ tim mạch, đồ uống có cồn nên giới hạn ở mức 2 ly mỗi ngày ở nam và 1 ly mỗi ngày với nữ. Lưu ý rằng 1 ly tương đương 340 gam bia, 140 gam rượu vang, 42 gam rượu 40 độ. Ngưng hút thuốc cũng làm làm nguy cơ tim mạch.

Kết luận
JNC 8 đã chuyển từ giả thiết rằng mức huyết áp thấp sẽ cải thiện hiệu quả bất kể loại thuốc nào được sử dụng để đạt mức thấp hơn, thay vào đó JNC 8 khuyên dùng những thuốc có bằng chứng tốt nhất trong việc giảm nguy cơ tim mạch. Ngoài ra, phác đồ cũng hướng đến việc sử dụng ít hơn các thuốc chống tăng huyết áp ở bệnh nhân trẻ, điều này cho thấy hiệu quả tương đương trong biến cố tim mạch và giảm nguy cơ biến cố không mong muốn đi kèm.
SVD5. Phạm Ngọc Huy, ĐH Y Dược Tp. HCM (dịch)
DS. Nguyễn Thị Vân Anh, ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội (hiệu đính)
Nguồn: PharmacyTimes

jeudi 13 février 2014

Blog Nhịp cầu dược lâm sàng có page Facebook riêng!

Hầu hết mọi người đều thích FB hơn là blog nên Nhipcauduoclamsang đã chuyển sang Fb hơn mấy tháng rồi!

Mọi người truy cập địa chỉ sau nhé!
https://www.facebook.com/nhipcauduoclamsang

Những thông tin ở hai trang là 100% giống nhau hoàn toàn, mình sẽ cố gắng cập nhật ở cả hai trang!

Cảm ơn mọi người nhiều!

VTH, 13/2/2014

lundi 4 novembre 2013

Các bạn sinh viên Dược đang muốn tìm đề tài cuối khóa ?

Các bạn sinh viên Dược đang muốn tìm đề tài cuối khóa để làm, nếu biết tiếng Pháp có thể ghé trang này để tìm các luận văn của các bạn Dược Pháp để tham khảo nè:)) Điều quan trọng khi chọn một đề tài là kết quả của nghiên cứu phải thực sự có ích cho thực hành và cho bệnh nhân, hiểu nôm na là người khác phải đọc luận văn của bạn và phải thốt lên "Ui, thiết thực quá":))). Và chính bạn chứ không phải Thầy Cô là người "dấn thân" vì đề tài:))))

Cơ sỡ dự liệu về khoa học của Pháp 

VTH, 4/11/2013 

vendredi 1 novembre 2013

Làm sao để những hoạt động mới của Dược lâm sàng được tiến hành hiệu quả nhất?

Vừa đọc xong quyển luận văn của sinh viên Dược Pháp về đề tài "Quan điểm và sự mong đợi của bệnh nhân mạn tính đối với dịch vụ tư vấn sử dụng thuốc của Dược sĩ tại quầy thuốc" thấy một số điều thú vị muốn tóm tắt lại ở đây.

1. Luật về các hoạt động liên quan đến Dược lâm sàng đã ra không có nghĩa nó sẽ được áp dụng hiệu quả ngay - Cần các nghiên cứu tiến hành song song để tìm ra khó khăn và đề ra giải pháp áp dụng luật.

Năm 2009, theo luật về bệnh viện của Pháp nhằm đổi mới cách thức tổ chức hoạt động của hệ thông y tế, có rất nhiều điệu lệ thay đổi liên quan đến vai trò của Dược sĩ bệnh viện và Dược sĩ cộng đồng (DS ở quầy thuốc).

2 xu hướng thay đổi nổi bật là:
1. Chuyển gánh nặng chăm sóc y tế từ bệnh viện sang hệ thống cộng đồng
2. Tăng sự hợp tác, phối hợp giữa các nhân viên y tế, đặc biệt là bác sĩ và dược sĩ.

Do đó, vai trò của DS quầy thuốc ngày càng được nhấn mạnh. Theo luật, DS quầy thuốc có thể cung cấp các dịch vu tư vấn chuyên biệt cho bệnh nhân bị bệnh hen, bệnh nhân dùng thuốc chống đông...và được chi trả thêm bởi bảo hiểm.

Tuy nhiên, sau khi luật ra đời, số bệnh nhân được hưởng dịch vụ này vô cùng thấp. Tại sao?
Để trả lời câu hỏi đó, các DS tiến hành rất nhiều nghiên cứu địn tính (qualitative) xoay quanh câu hỏi:
Quan điểm và mong đợi của Dược sĩ, Bác sĩ và bệnh nhân về dịch vụ này như thế nào? Về lợi ích, cách thức tổ chức, chi trả, các khó khẳn/rào cản?
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp đưa ra các khuyến cáo giúp điều chỉnh luật cho phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tế.

Điều mình học hỏi được là:
1. Sự thay đổi mang tính hệ thống là một quá trình lâu dài. Luật sẽ chỉ được áp dụng hiệu quả nếu được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các nghiên cứu bài bản.
2. Muốn áp dụng một dịch vụ mới về DLS thành công thì khâu "khảo sát thị hiếu khác hàng"- khách hàng của dịch vụ DLS cụ thể là bệnh nhân và bác sĩ thông qua các nghiên cứu định tính (qualitative) là rất quan trọng.

Các dịch vụ DLS được coi là những dịch vụ mới - hiệu quả do Dược sĩ cung cấp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả, an toàn, tiết kiệm trong sử dụng thuốc cho bệnh nhân. Nhưng nếu dịch vụ đó không "bán chạy" thì lỗi không phải do "bệnh nhân không biết", "bác sĩ e ngại không chấp nhận", mà lỗi đó trước hết là do DS đã "không marketing tốt về chất lượng và giá trị mang lại của dịch vụ mới của mình". 

VTH, 1/11/2013











jeudi 31 octobre 2013

Lời khuyên cho bệnh nhân khi mua thuốc tại quầy thuốc

Thông tin giành cho cộng đồng

Mình mới đọc được là 25% các trường hợp nhập viện cấp cứu là do phản ứng có hại của thuốc. Thuốc như con dao hai lưỡi ấy, ngoài tác dụng tốt để điều trị bệnh, nó cũng có nguy cơ gây các phản ứng có hại không mong muốn.Việc sử dụng thuốc hợp lý, đúng cách sẽ giúp hạn chế tối đa nguy cơ này. Chỉ cần nhớ rằng « Viên thuốc không có tác dụng chữa bệnh mà nó có thể là nguyên nhân gây bệnh. Chỉ khi uống thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ và hướng dẫn của dược sĩ thì an toàn nhất»

Ai đi mua thuốc thì nhớ chuẩn bị một số câu hỏi cho Dược sĩ bán thuốc trước khi rời quấy thuốc:
-          Thuốc này có tác dụng gì ấy nhỉ ? Uống trước, trong hay sau bữa ăn ?  Có phải kiêng cữ gì không? Có tác dụng có hại gì ? Nếu có thì phải làm sao ? ….
Một số cách có thể áp dụng để tự bảo vệ mình khi đi mua thuốc:
1.       Nên chọn 1 quầy thuốc người bán thuốc là dược sĩ đứng bán. DS và đội ngủ bán thuốc thân thiện, đáng tin và nên trung thành với một nhà thuốc để thiết lập mối quan hệ với một quầy thuốc. Đồng thời DS dễ dàng theo dõi diễn tiến của bệnh và đưa ra lời khuyên. 
2.       Nên chọn thời điểm mua thích hợp lúc nhà thuốc rảnh rổi để tranh thủ được tư vấn chi tiết với dược sĩ về bệnh, thuốc. Đặc biệt là với các bệnh nặng, mãn tính. 
3. Với những bệnh nhẹ, có thể nhờ DS tư vấn chọn mua thuốc gì, còn đối với các bệnh nặng thì bắt buộc phải đi khám bác sĩ và chỉ mua thuốc khi đã có đơn của bác sĩ.
4. Không dùng đơn của người thân hay bạn bè, hay đơn thuốc cũ đã hết hiệu lực để đi mua thuốc.
3.   Đừng ngại đặt câu hỏi liên quan đến dùng thuốc với nhân viên bán thuốc. Nếu nhân viên bán thuốc không trả lời được ngay, có thể xin hẹn DS thời gian sau quay lại quầy để có câu trả lời. Vì thông tin về thuốc rất đa dạng, phong phú. Bản thân DS cũng không thể nắm hết được. Hầu như các DS muốn trả lời đều phải mất thời gian tra cứu mới tìm được câu trả lời chính xác. Vì vậy, đừng bất ngờ hay nghi ngờ năng lực của DS khi thấy DS không trả lời được ngay mà phải tra cứu sách vở. Việc DS tra cứu thay vì trả lời bừa đã thể hiện trách nhiệm, tính chuyên nghiệp của DS đó. Vì vậy, khi thấy Dược sĩ bối rối không biết câu trả lời hãy đệm thêm một câu, đại khái là “Ui, mấy cái thông tin này ai mà nhớ hết được nhỉ? Nhưng nếu anh/cô có thể tra đâu đó rồi trả lời cho tôi an tâm thì hay quá. Tôi rảnh có thể đợi hay quay trở lại sau”.
4.       Nên thử mua tại vài quầy, sau đó lựa chọn quầy có thuốc tốt, giá cả phù hợp và chất lượng tư vấn tốt.
VTH, 2/4/2014


lundi 28 octobre 2013

Video buổi seminar giới thiệu về Mô hình Thực hành -Đào tạo - Nghiên cứu về Dược lâm sàng tại Grenoble!

This presentation of the organization of clinical pharmacy activities at Grenoble University Hospital was presented by Prof. Allent Benoit, at Hanoi University of Pharmacy, in Vietnam.

 Đây là Buổi seminar giới thiệu về Mô hình Thực hành -Đào tạo - Nghiên cứu về Dược lâm sàng tại Grenoble của GS. Allenet Benoit, tổ chức tại Đại học Dược Hà Nội tháng 9/2013!



Bài nói chuyện bằng Tiếng Anh có phiên dịch sang tiếng Việt:)

VTH, 28/10/2013