vendredi 23 octobre 2015

CLS_Tương tác thuốc với NSAIDs



Dịch: Lê Phạm Phương Ngọc- SVD4- ĐHYD TPHCM
Hiệu đính: ThS.DS. Đào Thu Trang, tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành ""Pharmacologie et métier des médicaments" tại Université Paul Sabatier, Pháp
Nguồn: Le Moniteur des pharmacies. Cahier 2 du numéro 3056 du 22 novembre 2012. Iatrogénie - AINS - 17 cas pratiques.  
 


CA LÂM SÀNG 13: TƯƠNG TÁC THUỐC
“ CÔ T BỊ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP”

Cô T, 35 tuổi, được chẩn đoán bị bệnh viêm khớp dạng thấp. Cô đưa cho nhân viên quầy thuốc –cô S, một đơn thuốc gồm: Methotrexat 2,5mg ( 4 viên, 1 lần mỗi tuần), Speciafoldine 5mg (2 viên, uống sau Methotrexat 48h), Chrono-Indocid (indometacin) 75mg (1 viên/ ngày khi đau) và paracetamol 1g ( tối đa 4 viên/ ngày).  Phần mềm tìm thấy tương tác giữa methotrexat và Chrono- Indocid). Cô S gọi dược sĩ.
Có thể cấp thuốc theo đơn này được không?
Mức độ tương tác phụ thuộc liều của methotrexat.
Phân tích ca:
-          Methotrexat là một chất kháng acid folic tác dụng kháng viêm, ức chế miễn dịch có tác dụng phụ chủ yếu lên đường tiêu hóa, độc máu, độc gan và độc tính trên phổi. Bài tiết chủ yếu qua nước tiểu nhờ lọc qua cầu thận. Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) làm giảm độ thanh thải ở thận của methotrexat và làm tăng độc tính của methotrexat, nhất là độc tính trên máu.
-          Khi sử dụng methotrexat ở liều cao trên 20mg/ tuần (theo dược thư của cơ quan quốc gia về an toàn thuốc và những sản phẩm y tế- ANSM) khuyến cáo không phối hợp với NSAID (chống chỉ định với aspirin). Khi sử dụng methotrexat liều thấp, tương tác được xếp vào nhóm “thận trọng khi sử dụng” (xét nghiệm máu hàng ngày)
Xử trí:
-          Dược sĩ giải thích cho cô S có thể phát thuốc với liều methotrexat là 10 mg/ tuần cho cô T. Dược sĩ bảo đảm rằng cô T. có phiếu xét nghiệm máu để kiểm soát huyết đồ.
-          Cuối cùng, khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng gợi ý giảm bạch cầu ( sốt, đau họng, ho) phải nhanh chóng đến gặp bác sĩ.
Ghi nhớ : Không nên phối hợp NSAID với methotrexat 20mg/ tuần do nguy cơ độc máu cao. Nếu sử dụng methotrexat liều thấp, phối hợp với NSAID cần theo dõi công thức máu.

CA LÂM SÀNG 14: TƯƠNG TÁC THUỐC
“ Không có nguy cơ với viên ngậm”
Ông O., 62 tuổi, đến mua thuốc atenolol 100mg và Previscan (fluindione) 20mg. Ông đặt lên quầy một hộp viên ngậm Strefen lấy ở khu “thuốc không kê đơn”. Ông trình bày với dược sĩ rằng từ tối hôm qua, ông bị đau họng, nhưng sáng nay vừa đi xét nghiệm INR và  không muốn lại đến bác sĩ nữa: “hôm nay tôi đã thấy đủ áo blouse trắng! Dù sao đi nữa, tôi không có nguy cơ gì với những viên ngậm này”.
Ông O. có đúng không?
Không, những viên ngậm này tương tác với thuốc điều trị của ông.
Phân tích ca:
-          Những viên bao đường Strefen chứa hoạt chất fluindion, một thuốc kháng viêm không steroid (NSAID). Sự phối hợp một thuốc kháng vitaminK và NSAID làm tăng nguy cơ chảy máu. NSAID tấn công niêm mạc dạ dày và có thể gây tổn thương đường tiêu hóa, nhiều khả năng gây chảy máu khi đang điều trị bằng thuốc chống đông đường uống. Ngoài ra, tác dụng chống kết tập tiểu cầu của NSAID gây ra tác dụng hiệp đồng với thuốc chống đông.
-          Không nên phối hợp thuốc chống đông đường uống và NSAID và, trong trường hợp không thể tránh được, cần phải theo dõi chặt chẽ lâm sàng và sinh hóa. Chống chỉ định dùng với aspirin ở liều kháng viêm.
Xử trí:
-          Dược sĩ giải thích cho ông O. rằng Strefen chứa NSAID không dùng cho bệnh nhân đang được điều trị thuốc chống đông.
-          Dược sĩ khuyên dùng những viên ngậm có chứa kháng sinh và chất gây tê cục bộ.
-          Dược sĩ nhắc nhở ông O. nếu có sốt trong vài ngày tới, ông có thể uống paracetamol nhưng không được dùng aspirin hay ibuprofen. Và nên đến khám bác sĩ vì tình trạng nhiễm khuẩn có khả năng làm rối loạn INR.
 Chú ý: Không nên phối hợp NSAID ( kể cả viên bao đường ) với thuốc chống đông đường uống do nguy cơ xuất huyết cao, đặc biệt trên đường tiêu hóa.


CA LÂM SÀNG 15: TƯƠNG TÁC THUỐC
“ Cảm lạnh và thấp khớp”
Cô F. muốn mua 1 hộp Rhinureflex (ibuprofen). “ thực sự, vào lúc này, thuốc không tác dụng tốt”, bà thở dài, nhấn mạnh việc đầu tuần đã mua Celebrex (celecoxib) được kê đơn bởi bác sĩ để điều trị thoái hóa khớp. Sinh viên dược Fabien lo lắng.
Fabien lo lắng điều gì?
Fabien tự hỏi về khả năng phối hợp một thuốc NSAID không chọn lọc (ibuprofen có trong thuốc Rhinureflex) và một thuốc ức chế chọn lọc COX2 (celecoxib). Fabien nhớ là đã học rằng coxib ít tác dụng phụ lên đường tiêu hóa hơn những thuốc NSAID không chọn lọc và không làm thay đổi tổng hợp thromboxan A2.
Phân tích ca:
-          Sự tổng hợp prostaglandin sinh lý bảo vệ niêm mạc dạ dày không chỉ liên quan tới COX1. Các nghiên cứu ngày nay cho rằng COX2 cũng có thể liên quan đến quá trình liền sẹo ở niêm mạc đường tiêu hóa.
-          Như vậy, mặc dù độc tính lên đường tiêu hóa của coxib giảm 50% so với NSAID không chọn lọc, nhưng không phải là không có độc tính. Tóm tắt đặc tính sản phẩm (RCP) của celecoxib cảnh báo khả năng xảy ra biến chứng trên đường tiêu hóa nghiêm trọng, đặc biệt trong trường hợp phối hợp NSAID khác (không nên phối hợp theo như dược thư của cơ quan quốc gia về an toàn thuốc và những sản phẩm liên quan sức khỏe- ANSM).
Xử trí:
-          Khuyên không nên dùng Rhinureflex (đặc biệt nguy cơ huyết khối nghẽn mạch liên quan đến celecoxib có thể tăng bởi pseudoephedrin gây co mạch) và khuyên dùng phối hợp antihistamin H1 và paracetamol.
Ghi nhớ : Không sử dụng đồng thời 2 thuốc NSAID, bao gồm cả thuốc ức chế chọn lọc COX2 do nguy cơ tăng gây loét và trên đường tiêu hóa.


CA LÂM SÀNG 16: TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT.
“vòng tránh thai và NSAID “
Cô S, 41 tuổi, than phiền về kinh nguyệt ra nhiều và đau bụng kinh từ khi cô đặt vòng tránh thai nội tử cung bằng đồng cách đây 2 tháng. Cô đến khám bác sĩ và được kê đơn gồm Ponstyl 250 mg (acide mefenamic, 2 viên 3 lần/ngày trong 3 ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt). Xem tờ hướng dẫn, cô S ngạc nhiên về việc NSAID tương tác với vòng tránh thai.
NSAID có làm giảm hiệu quả vòng tránh thai không?
NSAID không tương tác với vòng tránh thai.
Phân tích ca:
-          Giả thiết rằng NSAID làm giảm hiệu quả vòng tránh thai bằng đồng do giảm viêm tại chỗ bị bác bỏ từ năm 2007 bởi nghiên cứu của viện quốc gia về sức khỏe và nghiên cứu thuốc (INSERM).
-          Cơ chế tác động chính của vòng tránh thai bằng đồng dựa trên chủ yếu tác dụng gây độc tế bào của đồng hơn là tác dụng viêm nội mạc tử cung. Vì vậy, mặc dù tóm tắt đặc tính sản phẩm (RCP) của một vài vòng tránh thai bằng đồng vẫn đề cập rằng điều trị kháng viêm lâu dài bị chống chỉ định, và ghi chi tiết : “sử dụng NSAID ngắn ngày, ví dụ như điều trị đau bụng kinh, không ảnh hưởng hiệu quả ngừa thai của vòng tránh thai”.
-          Một phân tích tổng hợp của Mỹ vào năm 2012 khẳng định hiệu quả NSAID trong kiểm soát chảy máu nhiều liên quan vòng tránh thai bằng đồng do NSAIDS làm giảm prostaglandin nội mạc tử cung (giải phóng quá nhiều prostaglandin trong tử cung do sự hiện diện của đồng trong vòng tránh thai).
Xử trí:
-          Dược sĩ đảm bảo với cô S : sử dụng NSAID đúng thời điểm tương thích với biện pháp tránh thai và NSAID sử dụng để cải thiện chứng rong kinh liên quan đến vòng tránh thai bằng đồng.
Ghi nhớ : ngày nay, sự nghi ngờ tương tác giữa NSAID và vòng tránh thai bằng đồng bị bác bỏ. NSAID có thể được kê để điều trị chứng rong kinh và đau bụng kinh liên quan đến vòng tránh thai.


CA LÂM SÀNG 17:  CHỐNG CHỈ ĐỊNH
“Ông D bị suy tim”
Ông D, 61 tuổi, được chẩn đoán suy tim cách đây 6 tháng. Hiện nay, ông được điều trị bằng furosemid 40mg/ ngày, lisinopril 20mg/ngày và bisoprolol 10mg/ ngày. Bị áp xe răng, ông đến gặp nha sĩ và được kê : spiramycin/metronidazol 1 viên 2 lần/ngày trong 5 ngày và acid tiaprofenic 200mg, 1viên 3 lần/ngày trong 3 ngày. Dược sĩ tự hỏi liệu toa thuốc có acid tiaprofenic với bệnh nhân này có phù hợp.
Dược sĩ lo lắng điều gì?
NSAID có thể dẫn đến sự mất bù trong suy tim.
Phân tích ca:
-          Suy tim là nguồn gốc gây giảm lưu lượng máu thận. Trong tình huống này, duy trì tưới máu cầu thận phụ thuộc chủ yếu tác dụng giãn mạch của prostaglandin.
-          NSAID ức chế tổng hợp prostaglandin có thể gây ra suy giảm chức năng thận và giữ nước dẫn đến phù. Tuy nhiên, nguy hiểm nhất là làm tiến triển xấu tình trạng suy tim.và gây ra nguy cơ mất bù.
-          Ở những bệnh nhân suy tim nhẹ hoặc trung bình, toa thuốc có NSAID cần phải xem xét đến nguy cơ làm nặng thêm tình trạng suy tim. Tất cả dấu hiệu của sự mất bù (tăng cân nhanh, phù nề mắt cá chân, khó thở khi nằm) bắt buộc phải ngừng NSAID. Trong trường hợp suy tim nặng, chống chỉ định với NSAID.
Xử trí:
-          Được sự đồng ý của ông D., dược sĩ gọi cho bác sĩ của ông ấy để hỏi ý kiến. Các bác sĩ tim mạch thận trọng hơn cho ngừng sử dụng thuốc kháng viêm.
-          Lúc này, dược sĩ khuyên ông D. sử dụng chế phẩm phối hợp paracetamol với codein.
Chú ý: NSAID có thể gây nguy cơ mất bù trong suy tim do suy giảm chức năng thận và giữ muối nước.

jeudi 1 octobre 2015

CLS_ADR với thuốc trị ĐTĐ



Dịch: SVD3. Nguyễn Tùng Sơn, ĐH Dược HN
Hiệu đính: DS.ThS. Nguyễn Duy Hưng

1. Tác dụng không mong muốn: Case 1

Khó chịu do Amarel và Glucor
10h30: Bà R., 62 tuổi, cao 1m60, nặng 62kg tới nhà thuốc mang theo một giỏ đầy đồ. Vì có đông người, bà R. chờ đợi bằng cách xem đồ ở quầy mỹ phẩm. Đột nhiên, bà R. tiến đến gần cái ghế để ngồi xuống vì cảm thấy không khỏe. Dược sĩ tiến tới hỏi thăm nhưng bà R. không trả lời và nhắm mắt lại. Hai nhân viên của nhà thuốc đã tới giúp đưa bà R. tới khu tiểu phẫu đằng sau hiệu thuốc để nằm nghỉ.
Chuyện gì đã xảy ra? Xử trí như thế nào?
Bà R. là một bệnh nhân đái tháo đường. Tất cả các biểu hiện bất thường và sự khó chịu ở bệnh nhân đái tháo đường được điều trị bằng insulin hoặc thuốc kích thích bài tiết insulin như các sulfamide gây hạ đường huyết hoặc glinide (xem bảng ở trang IV) cần được ưu tiên coi như triệu chứng của hạ đường huyết. Khi một bệnh nhân có nguy cơ hạ đường huyết, cần cho dùng loại đường đồng hóa nhanh và sau đó là đường đồng hóa chậm.
Phân tích:
Sẽ rất có ích nếu biết được phác đồ điều trị đái tháo đường của bệnh nhân, tuy nhiên bệnh nhân ấy không thể trả lời. Tra cứu tiền sử dùng thuốc cho thấy, bệnh nhân đã dùng Amarel 2mg và Glucor. Amarel (glimepiride) là một sulfamide gây hạ đường huyết, vì vậy có thể gây ra tình trạng hạ đường huyết. Do có thời gian bán thải dài, quá liều glimepiride có thể gây nên cơn hạ đường huyết kéo dài (lên đến 72h).
Xử trí:
Có cần dùng saccharose?
Bệnh nhân đang dùng Glucor, một thuốc ức chế alpha-glucosidase, do đó sẽ làm giảm sự tiêu hóa và hấp thu ở ruột non của disaccharide.
Trong trường hợp này, để điều trị cơn hạ đường huyết, nên dùng glucose và không nên dùng saccharose (đường viên) để nhanh chóng làm tăng đường huyết, vì Glucor làm chậm quá trình thoái hóa saccharose và đồng hóa glucose.
Mặc dù thực tế ít gặp, nhưng những bệnh nhân sử dụng Glucor hay Diastabol nên có sẵn bên mình những túi Glucodose Ultrarapide, là loại glucose dạng lỏng được dùng khi hạ đường huyết. Liều dùng mỗi khi bị hạ đường huyết là 2 túi cho người lớn.
Ở nhà thuốc, không phải lúc nào cũng có sắn Glucose Ultrarapide. Trong trường hợp này, dược sĩ yêu cầu bệnh nhân nhai 3 - 4 viên đường và ngậm trong miệng một chút trước khi nuốt. Một vài phút sau, bà R. cảm thấy tốt hơn và ngồi dậy; dược sĩ cho bệnh nhân nhanh chóng dùng loại đường chậm (như bánh biscotte), để hoàn thành quá trình nạp đường. 
Tìm nguyên nhân gây khó chịu
Cần tìm nguyên nhân gây ra các khó chịu này để ngăn chúng không xảy ra lần nữa. Sau một vài câu hỏi, bà R. khẳng định rằng lúc đó bà đang lo lắng cho con trai của mình, và sự lo lắng đó làm bà không thấy đói. Sáng nay, bà R. đã dùng Glucor và Amarel với chỉ một tách cà phê. Sau đó, bà R. đi chợ.
Nguyên nhân của sự khó chịu có thể là do không ăn đủ sau khi dùng sulfamide kích thích bài tiết insulin.
Bệnh nhân đái tháo đường không nên dùng sulfamide gây hạ đường huyết nếu như không ăn ngay sau đó (do chán ăn, thiếu thời gian,…)
Đâu là các triệu chứng của hạ đường huyết?
- Hạ đường huyết là tác dụng không mong muốn thường gặp ở bệnh nhân được điều trị bằng insulin hoặc các thuốc kích thích bài tiết insulin như: sulfamide gây hạ đường huyết, repaglinide.
- Các triệu chứng lâm sàng của hạ đường huyết rất khác nhau theo từng cá nhân, và đối với mỗi cá nhân, lại phụ thuộc vào các giai đoạn bệnh.
+ Các triệu chứng của hệ adrenergic (do sự bài tiết của adrenalin phản ứng với hạ đường huyết):
            + Vã mồ hôi, bàn tay ẩm và nhợt.
            + Cảm thấy rất đói.
            + Các dấu hiệu tim mạch: nhịp tim nhanh, đánh trống ngực.
            + Run.
+ Các triệu chứng do thiếu glucose não:
            + Suy nhược đột ngột,
            + Rối loạn khả năng chú ý, mất phương hướng, nói nặng kém mạch lạc
            + Rối loạn nhân cách: lo âu, bồn chồn, cáu kỉnh, hung hăng và bạo lực.
            + Rối loạn cảm giác: song thị, ảo thị, rối loạn khứu giác.
            + Chóng mặt, cảm giác như say rượu, có thể khiến lầm tưởng đến việc sử   dụng rượu quá mức.
+ Trong trường hợp hạ đường huyết nặng:
            + Co giật.
            + Hôn mê do hạ đường huyết, hôn mê sâu và yên lặng.
+ Trong trường hợp hạ đường huyết nặng và lặp đi lặp lại:
            + Rối loạn tâm thần, trí nhớ, mất trí nhớ
            + Rối loạm thần kinh, liệt nửa người.
- Các triệu chứng adrenergic xuất hiện trước các triệu chứng khác nếu như đường huyết hạ dần dần. Kích thích adrenergic cho phép huy động glucose nội sinh. Các thuốc chẹn beta (thậm chỉ là ở dạng thuốc nhỏ mắt) có thể che giấu một số triệu chứng như run và tim đập nhanh, không ảnh hưởng đến các triệu chứng khác. Hơn nữa, việc sử dụng thuốc chẹn beta có thể gây kéo dài cảm giác khó chịu do hạ đường huyết do sự ức chế hệ giao cảm, đặc biệt là những thuốc chẹn beta không chọn lọc trên tim (như propranolol).
































2. Tác dụng không mong muốn: Case 2

Rối loạn tiêu hóa do Avandamet:
Ông A., 57 tuổi, cao 1m 80, nặng 91 kg, đang được điều trị bằng Diamicron (sulfamide gây hạ đường huyết), với liều 3 viên/ngày trong vòng 4 năm nay. Dựa trên kết quả xét nghiệm HbA1c gần nhất của ông A. (7.1%,  7.5% và 7.6%) , 10 ngày trước bác sĩ đã bổ sung thêm vào đơn thuốc Avandamet (rosiglitazone + metformin) 1 mg/500 mg, 4 viên/ngày chia 2 lần, trong 1 tháng. Hôm nay, ông A. quay trở lại nhà thuốc và đề nghị được kê một loại thuốc chống đầy hơi. Ngoài ra, từ vài ngày nay, ông A. thường buồn nôn và muốn được dùng Vogalib.
Có thể chấp nhận yêu cầu đó không?
Không, không phải bàn cãi. Những triệu chứng như mô tả gợi nhắc đến những tác dụng không mong muốn của metformin ở trong Avandamet.
Phân tích:
Avandamet chứa 1 mg rosiglitazone và 500 mg metformin. Vì vậy, với liều 4 viên/ngày sẽ chứa 2 g metformin, đây là liều cần đạt được dần dần chứ không nên dùng ngay lập tức từ đầu. Những triệu chứng rối loạn tiêu hóa mà bệnh nhân gặp phải chính được giải thích một cách logic là do đưa vào quá nhanh chóng một lượng lớn metformin. (1g/lần)
Avandamet được chỉ định cho bệnh nhân đái tháo đường type II, đặc biệt trong tình trạng thừa cân, không đạt được cân bằng đường huyết với nồng độ tối đa còn dung nạp của metformin dùng đơn độc. Trong trường hợp này, bệnh nhân không sử dụng metformin trước khi được chỉ định bằng Avandamet (được xác nhận bởi bệnh sử của bệnh nhân). Có lẽ ở đây có một sự nhầm lẫn giữa Avandia (rosiglitazone) và Avandamet (rosiglitazone + metformin), sự nhầm lẫn này đã không được phát hiện trong quá trình cấp phát thuốc.
Xử trí:
Liên lạc với bác sĩ:
Cần phải gọi điện cho bác sĩ để xác nhận chỉ định là đúng. Cần phải thay thế Avandamet bị chỉ định nhầm bằng Avandia. Dừng Avandamet và thay thế bằng Avandia 2mg (2 viên/ngày) cho phép giảm rối loạn tiêu hóa một cách nhanh chóng.
Qua việc trao đổi với bác sỹ, cần khẳng định chắc chắn rằng bệnh nhân đã được định lượng enzym gan trước khi bắt đầu điều trị bằng rosiglitazone.
Kiểm soát sau 2 tháng:
Sau 8 tuần điều trị, liều khởi đầu của rosiglitazone (4mg/ngày chia 2 lần) sẽ có thể tăng lên 8mg/ngày (với Avandia 4mg) nếu sự kiểm soát đường huyết không đạt được hiệu quả.
Thận trọng khi kết hợp 2 thuốc điều trị đái thào đường là Avandamet và Glucovance! Cả 2 đều chứa metformin, là nguyên nhân của các rối loạn tiêu hóa thường gặp, và cần thiết phải dùng liều tăng từ từ.

3. Tác dụng không mong muốn: Case 3

Tiêu chảy do metformin
Ông M., 64 tuổi, mắc đái tháo đường cách đây 9 năm. Ông ta rất cẩn thận trong việc dùng thuốc của mình. Ngoài ra, ông ta còn tập thể dục 4 lần/tuần, đồng thời thực hiện theo nhiều chế độ ăn kiêng. Trong một năm nay, ông M được điều trị bằng gliclazide (2 viên 80 mg/ngày) và Glucophage (3 viên 850mg/ngày). Ngoài ra ông ta còn dùng Tareg, Lasilix, Atarax, Omix LP và Noctran. Tuần trước, bác sĩ chỉ định thêm 3 tháng  Carbolevure (1 viên/ngày vào lúc 12h trưa). Đó là do ông M. phàn nàn rằng mình bị đau bụng và tiêu chảy. Ông ta quay trở lại hiệu thuốc vì không thấy khá hơn, và, tiêu chảy không chỉ gây khó chịu mà còn làm ông M. lo lắng. Ông ta muốn một loại thuốc khác hiệu quả hơn Carbolevure.
Trả lời về sự lo lắng của bệnh nhân như thế nào?
Việc điều trị tiêu chảy chỉ có tác dụng tức thời. Cần phải coi việc rối loạn tiêu hóa kéo dài như là biểu hiện của tác dụng không mong muốn của thuốc.
Phân tích
Ông M đang sử dụng Glucophage (metformin), một thuốc thường gây ra rối loạn tiêu hóa (ở trên 10% bệnh nhân). Các rối loạn bao gồm: buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy. Những rối loạn này thường xuất hiện ở thời kì đầu điều trị và tự biến mất sau đó . Việc sử dụng metformin trong và sau bữa ăn sẽ làm giảm tình trạng buồn nôn và nôn. Ở một vài bệnh nhân, tình trạng tiêu chảy ra nước xuất hiện sau một vài tháng điều trị, và có thể dẫn đến giảm cân đáng kể. Các thuốc điều trị triệu chứng như Carbolevure, loperamid có thể được dùng trong một thời gian ngắn. Khi dừng sử dụng các thuốc cầm tiêu chảy, cần phải xem xét ngừng dùng metformin nếu các rối loạn nhu động ruột xuất hiện trở lại. Có thể khẳng định vai trò của các thuốc đái tháo đường với tình trạng tiêu chảy của bệnh nhân nếu tiêu chảy giảm dần sau khi ngừng dùng thuốc.
Xử trí:
Tìm hiểu nguyên nhân:
Cần phải kiểm tra các nguyên nhân gây ra và làm nặng thêm tình trạng tiêu chảy (thuốc khác, nhiễm khuẩn đường ruột, thực phẩm quá nhiều chất xơ,…)
Điều trị  tiêu chảy:
Trong trường hợp của bệnh nhân này, có thể cho dùng loperamid ngay, vì quan trọng là phải dừng tình trạng tiêu chảy, không chỉ để làm giảm lo lắng ở bệnh nhân, mà còn để không làm nặng thêm tình trạng hạ kali máu do Lasilix. Loperamid sẽ được dùng trong vòng 48 đến 72h.
Sau khi ngừng sử dụng loperamid, nếu tình trạng tiêu chảy xuất hiện lại, cần phải gặp bác sĩ và đánh giá lại việc điều trị, vì gần như chắc chắc nguyên nhân là do metformin.
Trên 10% bệnh nhân sử dụng metformin gặp rối loạn tiêu hóa, đặc biệt là tiêu chảy. Loperamid có thể được sử dụng trong 72h. Nếu tiêu chảy kéo dài dai dẳng và tái phát, việc điều trị đái tháo đường cần được đánh giá lại.

4. Tác dụng không mong muốn: Case 4

Đau đầu và run do Actos:
Ông D., 81 tuổi, cao 1m58, nặng 70kg, mắc đái tháo đường và tăng huyết áp từ năm 47 tuổi, thường xuyên đến nhà thuốc. Ông ta được điều trị bằng Amarel 2mg (1 viên vào buổi trưa) từ 6 tháng nay. Kết quả xét nghiệm HbA1c mới nhất của ông ta là 7,5%. Tối qua, ông ta tới lấy thuốc cho đơn thuốc mới: Bipreterax, Ginkor Fort và Actos 30 mg (1 viên buổi sáng) thay thế Amarel. Chiều hôm sau, ông ta quay trở lại nhà thuốc và kể với dược sĩ về những chuyện đã xảy ra vào buổi sáng. Hai giờ sau khi dùng Actos lần đầu tiên, ông D. cảm thấy khó chịu (chóng mặt, nhức đầu, mạch đập thái dương, run và vã mồ hôi), các triệu chứng giống như đang bị sốt. Bệnh nhân đã đo đường huyết lúc 11h là 137mg/dl và một giờ sau bữa ăn (có thịt, Courgette) là 147mg/dl. Hai giờ sau khi ăn, những triệu chứng trên đã thuyên giảm.
Cần làm gì ở nhà thuốc?
Bệnh nhân mô tả những cảm giác khó chịu của mình nhằm mong đợi dược sĩ sẽ hướng dẫn để có thể tiếp tục điều trị. Cần liên lạc với bác sỹ kê đơn để thực hiện yêu cầu này của bệnh nhân.
Phân tích:
Những triệu chứng được mô tả và thời gian xuất hiện triệu chứng sau khi dùng Actos gợi nhắc đến tác dung không mong muốn của thuốc này, đó là thay đổi duy nhất trong phác đồ điều trị thường xuyên của bệnh nhân.
Thực tế là, đau đầu được ghi lại là một tác dụng không mong muốn ít gặp của Actos. Tuy nhiên, chóng mặt, vã mồ hôi và run dường như không được mô tả.
Xử trí:
Dược sĩ gọi điện cho bác sỹ kê đơn và mô tả lại những gì đã xảy ra. Kết luận cuối cùng là sẽ tốt hơn nếu dừng Actos và tiếp tục sử dụng Amarel, bệnh nhân cần được giải thích về điều này.
Dược sĩ làm báo cáo ADR (www.sante.gouv.fr/cerfa/efindes/abvitot.pdf) và gửi về Trung tâm Cảnh giác dược khu vực.
Dược sĩ có nghĩa vụ phải báo cáo tất cả các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng hoặc không dự đoán trước tới Trung tâm Cảnh giác dược khu vực.

Các trường hợp có nguy cơ gây hạ đường huyết:
- Tiêm insulin nhanh hoặc dùng thuốc kích thích bài tiết insulin (sulfamide hoặc repaglinide) mà không ăn uống đầy đủ.
- Dùng lượng thuốc gấp đôi (ví dụ như do quên dùng một lần trước đó) hoặc do tăng liều dùng.
- Hoạt động thể lực mạnh, không phù hợp, không phù hợp với liều dùnginsulin hoặc chế độ ăn.
- Tương tác với các thuốc gây hạ đường huyết.
- Tương tác thuốc với thuốc ức chế enzym (như một số azole) hoặc một số thuốc gây suy giảm chức năng thận.
- Mất nước gây suy giảm chức năng thận.
Bệnh nhân cần được giới thiệu về các nguy cơ hạ đường huyết, những dấu hiệu cảnh báo (xem trang 3) và những việc phải làm tùy vào mức độ nghiêm trọng (xem trang 10)

5. Tác dụng không mong muốn: Case 5

Hành vi bất thường ở một bệnh nhân đái tháo đường:
Ông S., 30 tuổi, mắc đái tháo đường type 1, được một nhà thuốc theo dõi từ vài năm nay. Ông ta được biết đến là một người niềm nở và bình tĩnh. Vào lúc 11h30, nhà thuốc rất đông người do đó là lúc tan ca. Hôm nay ông ta có biểu hiện mất bình tĩnh, giận giữ và cố gắng để được phục vụ trước. Thái độ cư xử của ông ta thu hút sự chú ý của mọi người trong nhà thuốc, vì đấy không phải là tính cách bình thường của ông ta.
Chuyện gì đã xảy ra?
Ông S. có thể đã bị hạ đường huyết.
Phân tích:
Triệu chứng của hạ đường huyết rất đa dạng và biến đổi ở mỗi bệnh nhân. Bệnh nhân có thể biểu hiện lo lắng, một số có thể kích động, hung hăng hoặc có những hành vi rời rạc (xem trang 3).
Xử trí:
Dược sĩ nghĩ bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi và kín đáo đưa ông ta tới sau nhà thuốc để ông ta có thể ngồi và giữ bình tĩnh. Ông ta chắc chắn rằng mình đang bị hạ đường huyết và xin một thìa đường. Dược sĩ cho ông ta đường viên và nước cam. Sau khoảng 7 – 8 phút, ông ta cảm thấy khỏe hơn. Ông ta lấy ra khỏi túi chiếc máy đo đường huyết, kết quả đo được là 58 mg/dl. Ông ta muốn trở về nhà để tiếp tục “bổ sung đường” với loại đường hấp thu chậm. Ông ta sẽ quay trở lại lấy thuốc sau.
Sự thay đổi bất thường về thái độ của bệnh nhân đái tháo đường type 1 cần nghi ngờ  do sự mất cân bằng đường huyết

6. Tác dụng không mong muốn: Case 6

Tăng cân do dùng glitazone
Bà B., 47 tuổi, mắc đái tháo đường từ vài năm nay. Trước kia, bà ta dùng 1 viên Stagid 3 lần/ngày và 3 viên Diamicron LM vào buổi sáng. 4 tháng trước, bác sĩ thay Diamicron bằng Actos 1 viên/ngày. Bà B. tới hiệu thuốc tìm thuốc nhuận tràng và trình bày với dược sĩ sự lo lắng về cân nặng của mình, cho dù không thay đổi chế độ ăn, bà ta đã tăng 4 kg vài tháng nay (từ 88 lên 92 kg, với chiều cao 1m75), điều này gây khó chịu vì làm bà ta rất khó thở. Tất nhiên, bà ta biết rằng mình chưa tập thể dục đủ, nhưng vẫn thắc mắc rằng điều gì đã xảy ra.
Nguyên nhân nào gây tăng cân?
Sự tăng cân không do thay đổi chế độ ăn, gợi nhắc đến một vấn đề do dùng thuốc, có hoặc không có ứ dịch.
Phân tích:
Bà B. mới bắt đầu điều trị bằng Actos. Sự tăng cân không do thay đổi chế độ ăn là tác dụng không mong muốn của Actos. Thực tế là, glitazone có thể gây tăng giữ nước và gây phù nề (6-9% bệnh nhân) và/hoặc tăng cân do tăng khối lượng mỡ (4-9% bệnh nhân), đặc biệt là khi kết hợp với một sulfamide hạ đường huyết. Tác dụng này phụ thuộc vào liều. Trong trường hợp này, sự khó thở nặng ở bệnh nhân cảnh báo nguy cơ suy tim do Actos.
Xử trí:
Cần phải kiểm tra xem bệnh nhân có phù chân hay không. Đồng thời cũng có thể đánh giá tiền sử dùng thuốc, việc bệnh nhân có dùng kèm NSAID (bao gồm cả việc tự dùng ibuprofen) có thể làm trầm trọng thêm tình trạng giữ nước. Kể cả khi không có phù nề, sự tăng cân này vẫn có khả năng liên quan đến Actos. Sau khi giải thích đầy đủ với bệnh nhân, dược sĩ yêu cầu bệnh nhân liên hệ với bác sĩ để biết những việc cần phải làm: dừng sử dụng Actos và gặp bác sĩ để đánh giá tình trạng tim mạch. Đồng thời, dược sĩ phải biết được chế độ ăn của bệnh nhân, ví dụ như yêu cầu bệnh nhân mô tả những gì đã ăn trước đó. Hơn nữa, tập thể dục là điều cần thiết, nó sẽ làm giảm mỡ bụng, góp phần làm tăng khả năng đáp ứng của insulin và làm giảm đường huyết. Đề nghị bệnh nhân cho biết kết quả các xét nghiệm sinh học (thường là HbA1c). Nếu giá trị HbA1c ở trên 7%, sẽ tốt hơn nếu điều trị bằng insulin. Điều quan trọng là cần cho bệnh nhân biết về những thay đổi này và điều này có thể sẽ được bác sỹ đề nghị.
Sự tăng cân nhanh chóng ở bệnh nhân đái tháo đường có thể do dùng glitazone (Actos, Avandia, Avandamet) và cần phải  thay đổi  phác đồ điều trị.

Những thuốc làm thay đổi đường huyết:
Một số thuốc không dùng để điều trị đái tháo đường có thể làm thay đổi đường huyết. Nó có thể làm tăng hoặc tăng nặng thêm cơn hạ đường huyết ở bệnh nhân, hoặc trái lại, có thể làm giảm tác dụng điều trị đái tháo đường.
Những thuốc gây hạ đường huyết:
- Dextropropoxyphene, tramadol: thường ở bệnh nhân cao tuổi khi bị suy giảm chức năng thận.
- Thuốc Ức chế men chuyển (ACEI): khi cho sử dụng ACEI ở bệnh nhân đang điều trị bằng sulfamide gây hạ đường huyết, cần kiểm soát đường huyết chặt chẽ hơn. Các ACEI là thuốc được lựa chọn để điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường vì nó có hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh thận do đái tháo đường.
- Quinine: thông báo cho bệnh nhân trong trường hợp sử dụng để điều trị sốt rét.
- Một số thuốc chống loạn nhịp tim: cibenzoline, disopyramide, hydroquinidine, quinidine, trong các trường hợp đặc biệt: người cao tuổi, suy giảm chức năng thận, dùng liều cao.
- Ethanol: Với một lượng vừa đủ, rượu có thể gây hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường, đôi khi là một vài giờ sau khi uống. Nó có thể che giấu một số triệu chứng hạ đường huyết và làm thay đổi cơ chế bù trừ.
Dùng một lượng lớn alcol (ở liều gây ngộ độc) có thể tự gây hạ đường huyết.
Những thuốc gây tăng đường huyết:
Việc sử dụng một thuốc gây tăng đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường trong một thời gian dài sẽ có hại (các biến chứng tim mạch) nếu việc điều trị đái tháo đường không kiểm soát được cân bằng đường huyết. Trong điều trị cấp tính, hiếm khi các thuốc gây tăng đường huyết gây ra các hậu quả nặng nề (hôn mê do tăng đường huyết)
- Corticoid dùng kéo dài: thường gây tăng đường huyết.
- Thuốc ức chế protease của HIV: thường là nguyên nhân xuất hiện đái tháo đường (5% bệnh nhân) hoặc làm nặng hơn tình trạng bệnh ở những người đã mắc đái tháo đường.
- Hormon tuyến giáp: cần điều chỉnh phác đồđiều trị đái tháo đường vào lúc khởi đầu điều trị hay lúc thay đổi liều.
- Thuốc ức chế miễn dịch (ciclosporine, tacrolimus): cần điều chỉnh phác đồ điều trị đái tháo đường.
Nếu như có biện pháp thay thế, không được kê một thuốc gây ảnh hướng đến đường huyết cho một bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị ổn định. Ngược lại, bệnh nhân sử dụng những thuốc này cần được cảnh báo về nguy cơ thay đổi đường huyết, không chỉ trong quá trình điều trị mà còn cả khi đã dừng thuốc.